ĐÓNG GÓP CỦA MỘT CÔNG NỮ HỌ NGUYỄN VÀO CÔNG CUỘC MỞ ĐẤT PHƯƠNG NAM TRONG THẾ KỶ XVII

04/06/2010 at 3:34 PM Leave a comment

TS. Phan Văn Hoàng*

1. Cuộc hôn nhân Việt – Chân Lạp năm 1620
1.1. Mối đe dọa từ Xiêm

Năm 1350, nước Xiêm định đô ở Ayuthya (hay Ayudhya). Từ đó, vương quốc này trở thành mối đe dọa thường trực đối với nước láng giềng Chân Lạp.

Chỉ một năm sau đó, 1351, vua Xiêm Râmâdhipati đích thân cầm quân bao vây kinh đô Angkor (cách Ayuthya khoảng 100 cây số). Biên niên sử Chân Lạp chép: “Người ta chỉ còn nghe tiếng than khóc của muôn dân; các tướng lĩnh, các chỉ huy cứ chết dần chết mòn; chim chóc hót một cách sầu thảm trong kinh thành bị bao vây”1. Sau khi chiếm được Angkor, vua Xiêm bắt khoảng 90% cư dân của kinh đô về Ayuthya làm nô lệ, mang theo vô số chiến lợi phẩm, rồi đặt con trai của mình là Chau Basath lên làm vua Chân Lạp, cử bà con trong dòng họ mình chia nhau cai trị các tỉnh.

Cứ vài chục năm, cảnh ấy lại tái diễn.

Vua Xiêm Ramesuen lại đánh chiếm Chân Lạp, giết vua n ước này là Dhammâsoka (1393) rồi đưa con trai mình là Ento lên ngôi báu (1394), bắt 7 vạn người Chân Lạp đem về Xiêm, cướp đi nhiều tượng Phật quí.

Năm 1430, vua Xiêm Paramaraja II thân chinh xua quân bao vây Angkor trong 7 tháng trời trước khi chiếm được kinh đô. Cảnh đốt phá cung điện và cướp bóc của cải lại diễn ra.

Sau khi quân Xiêm rút về n ước, vua Chân Lạp Soryopor quyết định bỏ Angkor, dời đô về phía đông cho xa biên giới với Xiêm, lúc đầu về Srei Santhor (1433), năm sau dời tiếp đến Chaturmukha (tức Phnom Penh ngày nay).

Nhưng Xiêm chưa chịu từ bỏ tham vọng xâm lăng Chân Lạp.

Năm 1472, Xiêm chiếm cố đô Angkor cùng các tỉnh Korat và Chantaboun, rồi tiến quân về Chaturmukha. Vua Chân Lạp Râmathupdey đầu hàng, bị bắt đưa về Ayuthya và bị bỏ đói cho đến chết.

Năm 1528, vua Chân Lạp Ang Chan I dời đô lên Lôvek.
Năm 1583, hoàng tử Xiêm Phra Naret dẫn 10 vạn quân sang chiếm 2 tỉnh Battambang và Pursat.
* Khoa Lịch sử – Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
1 A. Dauphin-Meunier, Histoire du Cambodge, Presses Universitaires de France, Paris, 1961, tr. 57

M ười năm sau, Phra Naret (lúc này đã lên ngôi vua) tấn công Lôvek, thề “sẽ rửa chân bằng máu của cha con Sâtha I”1. Thượng hoàng Sâtha I cùng con là vua Chey Chêttha I chạy trốn sang Lào rồi chết ở đó. Quân Xiêm chiếm kinh đô (1594), phá hủy hoàng cung và chùa chiền, đốt kinh kệ, sách luật và sách sử, cướp kho tàng, lấy đi nhiều tượng bằng đá quí và bắt nhiều người Chân Lạp đem về Xiêm.

1.2. Chỗ dựa ở Đàng Trong

Chân Lạp từng là một đế quốc hùng mạnh với nền văn minh Angkor rực rỡ một góc trời Đông Nam á. Chẳng lẽ Chân Lạp mãi mãi là nạn nhân của tham vọng bành trướng đến từ phía Tây? Trên Tập san của trường Viễn Đông bác cổ của Pháp (Bulletin de l’Ecole francaise d’Extreme-Orient, viet tắt là BEFEO) số LXXIII năm 1984, hai nhà nghiên cứu Mak Phoeun và Po Dharma viết: “Mối bận tâm chính của các quốc vương Chân Lạp trong chính sách đối ngoại là sự đe dọa của Xiêm, bởi vì nước này không từ bỏ kế hoạch xâm lấn Chân Lạp và đặt Chân Lạp dưới sự bảo hộ của Xiêm. Một phần vì để có thể toàn tâm toàn ý đối phó với sự đe dọa của Xiêm mà vua Paramaraja VII (Sri Suriyobarm2), vào cuối thời gian trị vì của ông, đã chấp nhận kết giao với chúa Sãi”3 của Đàng Trong.

Paramaraja VII có ý định “kết giao với chúa Sãi” nh ưng ông quá ốm yếu sau tám năm bị quản thúc ở Xiêm (1594 – 1603) và chết năm 1619. Người thực hiện ý định ấy là con trai của ông, Chey Chêtthâ IITên vị vua này được phiên âm sang chữ La-tinh bằng nhiều hình thức khác nhau: Chey Chêtthâ, Chey Chetta, Cheychesda, Cheychessda, Jayajettha…, làm vua từ 1618 – 1628..

Từng trải qua những năm tháng tủi nhục của ng ười dân mất nước khi bị giam giữ ở Xiêm cùng với cha, Chey Chêtthâ II có tinh thần yêu nước nồng nàn, ngày đêm nghĩ đến phương kế bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Năm 1620, tức hai năm sau khi lên ngôi báu, Chey Chêtthâ II có hai quyết định quan trọng:

– Dời kinh đô từ Lôvek xuống Udong (Udong sẽ là kinh đô của vương quốc Chân Lạp trong hai thế kỷ rưỡi, từ 1620 đến 1867).
– Cầu hôn con gái của chúa Sãi, mặc dù trước đó Chey Chêtthâ II đã có ít nhất hai bà vợ người Chân Lạp và người Lào.

Đây là một cuộc hôn nhân mang tính chất chính trị. Các nhà nghiên cứu đều nhận định: “Chey Chêtthâ II tìm sự yểm trợ của Triều đình Huế nhằm quân bình với sức ép của Xiêm”4.

Tuy Đàng Trong lúc đó còn là một bộ phận của v ương quốc Đại Việt, chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài mãi đến 7 năm sau mới bùng nổ, nhưng quan hệ giữa hai bên đã rất căng thẳng. Trên danh nghĩa, các chúa Nguyễn vẫn tôn phù nhà Lê, song trong thâm tâm, họ đang ra sức xây dựng lực lượng mọi mặt nhằm tách Đàng Trong thành một nước riêng biệt để hùng cứ một phương.

1 A. Dauphin-Meunier, sđd, tr. 64.
2 Tức Soriopor, làm vua từ 1603 đến 1618.
3 Mak Phoeun và Po Dharma, “La première intervention militaire Vietnamienne au Cambodge (1658 – 1659)”, BEFEO, 1984, số LXXIII, tr. 300.
4 A. Dauphin-Meunier, sđd, tr. 72

Vâng lời dặn dò của cha (Nguyễn Hoàng, tức chúa Tiên) lúc lâm chung (1613) – Đàng Trong “là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời”1 – Nguyễn Phúc Nguyên (tức chúa Sãi) ngày đêm lo “sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục”2.

Trong cuốn “T ường thuật về chuyến truyền giáo mới của các linh mục Dòng Tên tại vương quốc Đàng Trong” (Relatione della nouva missione delli PP della Compangia di Giese al Rengo della Cocincina)3, giáo sĩ người ý Cristoforo Borri (sống ở Đàng Trong từ 1618 đến 1622) nhận xét: “Thế lực của chúa [Sãi] rất mạnh”. Khi cần, chúa Sãi “có thể cho tuyển ngay được 80.000 quân binh chiến đấu”. Quân đội “được đối xử tốt (…) và được trả lương cao” nên “họ chiến đấu rất anh dũng”. Về hải quân, “chúa Đàng Trong luôn luôn có tới 100 thuyền chiến”, “mỗi thuyền có súng đại bác và nhiều súng musqueton”. “Vũ khí của Đàng Trong đã lừng danh và nổi tiếng khắp các nơi qua đường biển cũng như đường bộ”4.

Chúa Sãi còn chủ tr ương mở rộng quan hệ ngoại giao và ngoại thương với các nước nhằm phát triển Đàng Trong thành một xứ giàu mạnh. Theo tiến sĩ Li Tana, “phải đương đầu với họ Trịnh ở phía Bắc, họ Nguyễn hẳn không thể gây thêm kẻ thù để sẽ phải bị tấn công từ phía hông hoặc từ phía sau (…). Đối với hai phía biển và núi, họ Nguyễn mặc dù đang bận bịu với nhiều công việc, cũng cố tìm cách thiết lập các liên minh, thay vì chống lại”5.

Một trong những “cách thiết lập các liên minh” là hôn nhân.

Năm 1619, chúa Sãi gả một con gái của mình cho th ương nhân Nhật Araki Soutarou (Hoang Mộc Tông Thái Lang), ban cho người này quốc tính và tên Việt Nam (Nguyễn Hiển Hùng). Araki Soutarou “trở thành hoàng thân ở Đàng Trong”6.

Năm 1620, chúa Sãi chấp nhận lời cầu hôn của quốc v ương Chân Lạp. Li Tana nhận xét: “Cuộc hôn nhân ban đầu xem ra nằm trong chiến lược phòng thủ hơn là tấn công”7: ngoài mục đích xây dựng sự hòa hiếu với một lân bang, cuộc hôn nhân đó nhằm tạo cơ hội để đông đảo di dân Đàng Trong vào khai phá vùng đất còn hoang vu ở phía đông nam Chân Lạp.

1 Đại Nam thực lục tiền biên, bản dịch của Viện Sử học, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, tập I, tr. 44.
2 Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 47.
3 Xuất bản ở Roma (ý) năm 1631
4 Cristoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, bản dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 84, 85, 86.
5 Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tếxã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, bản dịch của Nguyễn Nghị, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 102
6 Li Tana, sđd, tr. 94
7 Li Tana, sđd, tr. 172

2. Những đóng góp của bà Ang Cuv vào công cuộc mở đất phương Nam
2.1. Với tư cách là hoàng hậu (1620 – 1628)

Các sử gia ph ương Tây (như Jean Moura, Georges Maspero, Henri Russier…) đều ca ngợi công nữ xứ Đàng Trong rất đẹp (“très belle”, “d’une grande beauté”)1. Hơn thế nữa, bà được giáo dục từ nhỏ trong nền đạo đức Phật giáo2 nên hội nhập một cách dễ dàng và nhanh chóng vào môi trường văn hóa của Chân Lạp – nơi mà tuyệt đại đa số dân chúng là Phật tử.

Do đó, tuy Chey Chêtthâ II đã có ít nhất hai vợ, cô gái Huế thùy mị nết na ấy vẫn “rất được yêu quí vì sắc đẹp và đức tính của bà”3 và được phong làm “Đệ nhất Hoàng hậu” (la première reine)4 với tước hiệu “Somdach Prea Peaccac Vodey Prea Voreac Khsattrey5. Biên niên sử hoàng gia Chân Lạp gọi bà là Hoàng hậu Ang Cuv6.

Các sử gia ph ương Tây cũng nhất trí thừa nhận: bà có ảnh hưởng lớn đối với vua7 nên cuộc hôn nhân Chey Chêtthâ II – Ang Cuv mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ Đàng Trong – Chân Lạp.

Để việc liên lạc giữa hai triều đình đ ược chặt chẽ và thường xuyên, một sứ quán thường trực (ambassade à demeure) của Đàng Trong được thiết lập tại kinh đô Udong. Hai bên thường trao đổi các sứ bộ để thắt chặt tình đoàn kết và tương trợ. Chẳng hạn, Cristoforo Borri kể về sứ bộ Đàng Trong sang Chân Lạp năm 1621 được cầm đầu bởi một “người quen thuộc, đã tới lui nhiều lần, từng làm đại diện thường trú từ lâu [ở Udong] chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu”8.

Một trong những yêu cầu tha thiết nhất của Chey Chêtthâ II cũng nh ư của triều thần và nhân dân Chân Lạp lúc đó là Đàng Trong giúp tăng cường khả năng quốc phòng để Chân Lạp bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Chúa Sãi đáp ứng một cách thuận lợi. Theo Cristoforo Borri, chúa Sãi “chuẩn bị vũ khí liên tục và mộ binh giúp vua Campuchia, cung cấp cho vua này thuyền chiến và quân binh để cầm cự với vua Xiêm”9.

1 Jean Moura, Le Royaume du Cambodge, Paris, 1883, tập II, tr. 61
2 Cha của bà là một Phật tử thuần thành, được dân chúng gọi là chúa Phật hay chúa Sãi (Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 47)
3 Nguyễn Văn Quế, Histoire des pays de l’Union Indochinoise (Việt-Nam – Cambodge – Laos), Imprimerie Nguyen-Khac, Sài Gòn, 1932, tr. 263.
4 Henri Russier, sđd, tr. 57
5 Jean Moura, sđd, tập II, tr. 57.
6 Mak Phoeun, Chronique royale du Cambodge de 1594 à 1677 – Traduction franaise avec comparaison des différentes versions et introduction, EFEO xuất bản, Paris, 1981, tr. 120.
7 Georges Maspero, sđd, tr. 61; Marguerite Giteau, Histoire du Cambodge, Paris, 1957, tr. 82
8 Cristoforo Borri, trích dịch trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Trần Văn Giàu chủ biên), NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1987, tập I, tr. 148.
9 Cristoforo Borri, sđd, tr. 84.

Tức giận tr ước việc Chân Lạp nhận viện trợ quân sự của Đàng Trong, cuối năm 1621 – đầu năm 1622, vua Xiêm xua hai đạo quân sang đánh Chân Lạp. Với vũ khí và binh sĩ được Đàng Trong chi viện, Chey Chêtthâ II đích thân chỉ huy tướng sĩ tiêu diệt một đạo quân Xiêm ở Bâribaur, còn hoàng đệ Utey1 đẩy lui đạo quân thứ hai của Xiêm ở Bantey Meas.

Năm sau, Xiêm tấn công Chân Lạp một lần nữa để trả thù. Nhưng cũng như lần trước, quân Xiêm bị tổn thất nặng nề và phải tháo chạy về nước.

Các sử gia ph ương Tây đều kết luận: Chân Lạp hai lần giành được chiến thắng trước quân Xiêm là nhờ sự giúp đỡ về mặt quân sự của Đàng Trong2. Trong hai chiến thắng đó, có sự đóng góp của quân tình nguyện Việt Nam lần đầu tiên tham chiến ở Xứ Chùa Tháp.

Nhân dân Chân Lạp đã từng chịu đựng muôn vàn gian khổ và tang tóc do quân xâm lược từ phía tây gây ra nên đánh giá cao sự giúp đỡ của Đàng Trong. Điều đó thể hiện qua cảnh đón tiếp sứ bộ của chúa Nguyễn đến kinh đô Udong: “Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị võ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh đô Udong thì dân chúng Khơme, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh”3.

Để hoàng hậu đỡ nhớ quê h ương, Chey Chêtthâ II cho phép nhiều người Đàng Trong đến sinh sống trên lãnh thổ Chân Lạp. Một số buôn bán hay làm thợ thủ công ở vùng kinh đô, “có người được giữ chức hệ trọng trong triều”4. Nhưng đông đảo hơn là những người đến làm ăn ở vùng đông nam của Chân Lạp.

Lãnh thổ Chân Lạp t ương đối rộng, nhưng dân số Chân Lạp lại ít, nên người dân chủ yếu sống tập trung ở vùng đất màu mỡ xung quanh Biển Hồ (Tonle Sap) hay dọc theo sông Mekong. Vùng đông nam của Chân Lạp vẫn còn bỏ hoang. Giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes (1591 – 1660) cho biết: cho đến thế kỷ XVII, vùng đất đó vẫn còn “quạnh hiu, hoang mạc” và “không có vật gì thuộc về sự sống”5. Theo nhà sử học Philippe Devillers, trước khi người Việt đến, “đồng bằng sông Cửu Long chỉ là đầm lầy hôi thối, những bãi bùn và cây đước rộng mênh mông”6.

1 Còn viết Outey, Uday, em ruột của Chey Chêtthâ II. Cuốn Lịch sử Campuchia từ nguồn gốc đến ngày nay của Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ và Đỗ Văn Nhung (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982, tr. 156) đã nhầm khi viết Utey là con của Chey Chêtthâ II và làm vua từ 1628 đến 1642.

2 Henri Russier, sđd, tr. 57; M.L. Jean, Mémento des candidats aux examens et concours administratifs, Sài Gòn, 1948, tr. 74.
3 Cristoforo Borri, trích dịch trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tập I, tr.
4 André Migot, Les Khmers des origines d’Angkor au Cambodge d’aujourd’hui, Paris, 1960, tr. 54
5 Trích dẫn trong Đồng bằng sông Cửu Long – Nghiên cứu phát triển (Nguyễn Công Bình chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 33.
6 Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, NXB Seuil, Paris, 1952, tr. 22

Từ cuối thế kỷ XVI, một số ng ười Việt rời quê hương đến đây để làm ruộng, đánh cá… Các cuộc di dân ấy mang tính tự phát, lẻ tẻ. Chỉ từ năm 1620 trở đi, nhờ sự can thiệp của hoàng hậu Ang Cuv, số lượng người Việt vào đây mới bắt đầu tăng lên đáng kể. Trong lúc Chân Lạp chưa đủ nhân công và tiền của để khai phá một cách qui mô vùng đất còn hoang dã đó, triều đình Udong muốn nhờ tới sức lao động của lưu dân Việt Nam. Mặt khác khi di dân Đàng Trong có mặt ở đây, triều đình Huế sẽ có trách nhiệm nhiều hơn trong việc giúp đỡ Chân Lạp đối phó với nạn xâm lăng từ phiá tây.

Năm 1623, sau hai chiến thắng của Chân Lạp, chúa Sãi gửi “một sứ bộ mang theo rất nhiều tặng phẩm đến [Udong] để đảm bảo với Chey Chêtthâ II về sự ủng hộ và tình hữu nghị của triều đình Huế”1.

Vào thời điểm đó, số di dân Đàng Trong ở các địa ph ương như Preah Suakea (Bà Rịa), Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa), Kas Krobei (Bến Nghé, nay là Sài Gòn), Prei Nokor (Chợ Lớn)… đã đông hơn trước. Biên niên sử chép tay của Chân Lạp ghi: “Sứ thần của chúa Đàng Trong mang đến quốc vương Chân Lạp Chey Chêtthâ II một bức thư trong đó chúa Đàng Trong ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kas Krobei của Chân Lạp để lập các trạm thuế thương chính”2 trong thời gian 5 năm3.

Theo Henri Russier, “hoàng hậu [Ang Cuv] năn nỉ chồng để yêu cầu của những người đồng hương của bà được chấp nhận”4. Mặt khác, theo Mak Phoeun và Po Dharma, “chính sự đe dọa [của Xiêm] khiến Chey Chêtthâ II chấp nhận lời yêu cầu của Việt Nam”5.

Tuy vậy, Chey Chêtthâ II không đơn ph ương quyết định mà đưa vấn đề ra cho triều thần cùng thảo luận. Vẫn theo Biên niên sử chép tay của Chân Lạp, “sau khi tham khảo ý kiến các quan thượng thư, Chey Chêtthâ II thuận theo yêu cầu của chúa Đàng Trong và gửi cho ông này một bức thư cho biết ông chấp nhận điều mà chúa Đàng Trong yêu cầu”6.

Năm 1624, hoàng hậu Ang Cuv sinh hạ công chúa Ang Na Ksatri. Chey Chêtthâ II rất yêu quý con gái7.
Hạnh phúc đang tràn trề thì tiếc thay, Chey Chêtthâ II băng hà (1628). Tuy triều đại Chey Chêtthâ II không dài (1618 – 1628) nhưng được đánh giá cao nhờ:

1 A. Dauphin-Meunier, Le Cambodge, Nouvelles Editions Latines, Paris, 1955, tr. 56.
2 Annales manuscrites du Cambodge, trích dịch trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tập I, tr. 147
3 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 292.
4 Henri Russier, sđd, tr. 58.
5 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 300.
6 Annales manuscrites du Cambodge, sđd, tập I, tr. 147
7 Trong 8 năm chung sống với Chey Chêtthâ II, bà Ang Cuv chỉ có một con gái. Một số tác giả không chính xác khi viết bà có con trai là Chau Ponhéa To (Thái Văn Kiểm, Đất Việt trời Nam, NXB Nguồn sống, Sài Gòn, 1960, tr. 43) hay Batom Reachea Patouna Raja và Ang Nan (Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các bà trong cung Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997).

– Đối nội: tình hình chính trị ổn định, kinh tế – xã hội phát triển, thương nhân các nước đến làm ăn đông đảo…
– Đối ngoại: hai lần đập tan âm mưu bành trướng của Xiêm, bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Chân Lạp.
2.2. Với tư cách là thái hậu (1628 – ?)

Sau năm 1628, sự tranh giành ngôi báu – khi ngấm ngầm, lúc công khai – giữa các con của tiên vương Chey Chêtthâ II và các con của nhiếp chính vương Utey làm mất đi ít nhiều tính ổn định chính trị trong nội bộ vương triều Chân Lạp. Chỉ chưa đầy nửa thế kỷ (1628 – 1674), có đến 7 vua thay nhau trị vì trong đó có 4 vua bị giết, các vua còn lại đều chết một cách không bình thường.

Tuy nhiên, với đức độ và trí thông minh, thái hậu Ang Cuv v ượt lên trên mọi mâu thuẫn phe phái. Mak Phoeun và Po Dharma nhận định: “Dường như (…) bà hoàng Việt Nam Ang Cuv biết hòa hợp với hoàng gia Chân Lạp và có được một ảnh hưởng không thể chối cãi đối với các ông hoàng trẻ Khơ-me, cả các con của Chey Chêtthâ II lẫn các con của Utey”1. Bà “tiếp tục sống ở kinh đô Chân Lạp” và “không ngừng giữ một vai trò quan trọng”2 trong đời sống chính trị của Chân Lạp.

Năm 1628, hoàng thái tử Cau Bana Tu3 nối ngôi vua, có chú là Utey nhiếp chính. Tuy là con của bà thái hậu người Chân Lạp, quốc vương Tu rất kính trọng và yêu mến bà Ang Cuv, tôn bà lên tước vị cao quí Samtec Brah Dav Dhita4. Tước vị này cho phép bà được cấp 3 tỉnh làm thái ấp và có những quan lại riêng5. Chúa Sãi gửi sang Udong 2 quan chức và 500 quân sĩ người Việt để phục vụ và bảo vệ bà.

Sau khi Tu qua đời (1632), em là Cau Bana Nu lên thay. Lúc này, thời hạn 5 năm mượn đất để lập 2 trạm thuế quan đã hết. Thái hậu yêu cầu Nu gia hạn và Nu đã ngoan ngoãn nghe theo.

Năm 1640, Ang Nan (con của nhiếp chính v ương Utey) thay Nu làm vua, cưới công chúa Ang Na Ksatri (con gái của thái hậu Ang Cuv)6 và phong cho Ang Na Ksatri làm hoàng hậu.

Cau Bana Cand (con của Chey Chêtthâ II và bà ng ười Lào, sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Chân) cưới vợ người Mã Lai theo đạo Hồi, bỏ đạo Phật để theo đạo của vợ, lấy tên là Ibrahim. Năm 1642, Cand dựa vào một nhóm người Mã Lai và người Chiêm Thành theo đạo Hồi giết vua Ang Nan để cướp ngôi. Cand cho người giết Utey (chú ruột của Cand), nhiều người trong hoàng tộc (trong đó có 2 con trai của vua Ang Nan) và nhiều quan lại mà Cand cho là trung thành với vua. Nhiều người bị giết một cách dã man như “xuyên cọc vào hậu môn và lột da sống” (empaler et écorcher vifs)1.

1 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 294.
2 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 292.
3 3 Mỗi vua Chân Lạp có nhiều tên và hiệu khác nhau, phiên âm sang chữ La-tinh không giống nhau. Chúng tôi chọn tên dễ nhớ nhất.
4 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 293
5 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 294
6 Hoàng gia Chân Lạp cho phép anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha, anh chị em họ… được lấy nhau. Xét về quan hệ gia tộc, Ang Na Ksatri và Ang Nan là chị em chú bác ruột

Việc Cand thay đổi tôn giáo đã khiến nhân dân Chân Lạp tức giận, những việc làm độc ác của ông ta càng làm cho họ căm ghét.

Ngày 25-1-1658, hai ng ười con của Utey là Ang Sur và Ang Tan (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Xô và Nặc Ông Tân) cầm đầu cuộc nổi dậy để lật đổ một ông vua không được lòng dân và cũng để báo thù cho cha và anh. Cuộc nổi dậy không thành công vì lực lượng của Cand còn mạnh. Ang Sur và Ang Tan bí mật đến gặp thái hậu Ang Cuv, nhờ bà xin chúa Nguyễn giúp đỡ. Bà đồng ý, viết thư cho chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần, cháu gọi bà bằng cô)2.

Đáp ứng yêu cầu của hai hoàng thân Chân Lạp, chúa Hiền “sai phó t ướng Trấn Biên [lúc đó là Phú Yên] là Tôn Thất Yến, cai đội là Xuân Thắng, tham mưu là Minh Lộc (…) đem 3.000 quân đến thành Hưng Phúc (bấy giờ gọi là Mỗi Xuy [tức Mô Xoài], nay thuộc huyện Phúc Chính [đúng ra là Phước Chánh], tỉnh Biên Hòa), đánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về [Quảng Bình]”3.

“Theo các tài liệu của Hà Lan, có rất ít kháng cự từ phía quân Chân Lạp, điều đó khiến cho đội quân can thiệp của chúa Nguyễn đạt được một chiến thắng trọn vẹn trong một thời gian tương đối ngắn.

Linh mục J. Tissanier còn viết rằng: [quân Chân Lạp] chẳng kháng cự gì cả. Trong cuốn Relation du voyage du P. Joseph Tissanier de la Compagnie de Jésus depuis la France jusqu’au Royaume du Tunquin [xuất bản ở Paris năm 1663], ông viết rằng chúa Đàng Trong cử sang Chân Lạp một viên tướng với vài trung đoàn bộ binh và vài tàu chiến nhỏ, họ đã không gặp một sự kháng cự nào, họ đi vào một vương quốc đã mở sẵn cửa cho họ”4.

Điều đó cho thấy cả dân lẫn quân Chân Lạp đều không ủng hộ Cand và việc can thiệp của chúa Nguyễn là hợp với lòng người Chân Lạp.

Với sức mạnh quân sự v ượt trội của mình, Đàng Trong có thể chiếm đóng Chân Lạp lâu dài, thậm chí có thể sáp nhập Chân Lạp vào lãnh thổ của mình; Cand có thể chịu một số phận tương tự như các vua Chân Lạp trước kia khi rơi vào tay quân Xiêm. Nhưng không, mọi việc diễn ra theo một chiều hướng hoàn toàn khác. Chúa Hiền chỉ yêu cầu Cand hàng năm triều cống để tỏ ý thần phục Đàng Trong, đồng thời để cho di dân Đàng Trong đến làm ăn trên vùng đất còn hoang vu ở phía đông nam Chân Lạp. Chỉ cần Cand chấp thuận hai điều kiện ấy, chúa Hiền đã ra lệnh chấm dứt cuộc hành quân, cho quân rút khỏi Chân Lạp, trả tự do cho Cand, “trả ngôi báu Chân Lạp lại cho Cand, cho quân lính hộ tống Cand trở về vương quốc của ông ta”1. Chẳng may, trên đường về Udong, Cand nhuốm bệnh và qua đời khi đến Bat Anhchien, một địa phương nằm ven sông Vàm Cỏ Tây vào năm 1659.

1 A. Dauphin-Meunier, Histoire du Cambodge, sđd, tr. 74.
2 A. Dauphin-Meunier, Histoire du Cambodge, sđd, tr. 74.
3 Nguyên nhân việc chúa Hiền can thiệp quân sự ở Chân Lạp được trình bày như trên, nhưng các sử quan của Quốc sử quán nhà Nguyễn lại viết: “Tháng chín [năm Mậu Tuất 1658], vua nước Chân Lạp (…) là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy” (Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 98). Viết như vậy là không chính xác vì vào thời điểm ấy, Đàng Trong và Chân Lạp không có biên giới chung vì còn có Chiêm Thành nằm giữa.
4 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 309

Ang Sur, ng ười cầm đầu cuộc nổi dậy, lên ngôi, “chấp nhận thần phục triều đình Phú Xuân”2. Năm 1664, Ang Sur phong em là Ang Tan làm phó vương (ubhayoraj). “Trong suốt thời gian trị vì của anh mình, Ang Tan nếu không phải là người bảo vệ thì cũng là người ủng hộ di dân Việt Nam sống ở Chân Lạp”3.

Được sự che chở của thái hậu Ang Cuv, người Đàng Trong đến khai phá vùng đất hoang của Chân Lạp ngày càng đông.

Nh ưng nội bộ hoàng gia Chân Lạp lại rơi vào tình hình cực kỳ rối ren. Năm 1672, Sri Jayajetth (cháu, đồng thời là rể của vua Ang Sur) giết vua để cướp ngôi. Phó vương Ang Tan chạy sang dinh Thái Khang (nay là tỉnh Khánh Hòa) cầu cứu chúa Hiền một lần nữa.
Chúa Hiền chuẩn bị đưa quân sang trừng phạt Sri Jayajetth thì kẻ cướp ngôi này đã bị công chúa Dav Ksatri (vợ của Ang Tan) giết (hay sai người giết) vào tháng 4 hay tháng 5-1673.
Ang Ji (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Đài, con của vua Ang Sur) lên ngôi. Ang Ji lại sai người giết Dav Ksatri. Ang Nan (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Nộn, con nuôi của Ang Tan và Dav Ksatri) chạy sang dinh Thái Khang báo tin dữ. “Dinh thần đem việc báo lên. Chúa [Hiền] nói rằng: Nặc [Ông] Nộn là phiên thần, có việc nguy cấp, không thể không cứu” rồi “sai [Nguyễn] Dương Lâm làm thống binh, tướng thần lại thủ hợp là Nguyễn Diên Phái làm tham mưu, Văn Sùng (…) làm thị chiến, đem quân đi đánh”4.
Trong lúc thế trận còn giằng co thì cả Ang Tan lẫn Ang Ji đều chết. Cuộc nội chiến tiếp tục giữa Ang Nan và Ang Sur (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Thu, em của Ang Ji). Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Nặc [Ông] Thu đến quân môn xin hàng. Tin thắng trận báo về, triều đình bàn rằng: Nặc [Ông] Thu là dòng đích [con của vua Ang Sur] thì phong làm vua chính, đóng ở thành Long úc [Udong]; Nặc [Ông] Nộn [là dòng thứ, con nuôi của phó vương Ang Tan] làm vua thứ nhì, đóng ở thành Sài Gòn, cùng coi việc nước, hàng năm triều cống. Thế là nước Chân Lạp yên”5. Giải pháp này cho thấy chúa Nguyễn không muốn can thiệp sâu vào chuyện nội bộ của Chân Lạp mà chỉ muốn tạo điều kiện thuận lợi cho di dân Đàng Trong tới Chân Lạp làm ăn.

1 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 305
2 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 230
3 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 232.
4 Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 122.
5 Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 122.

Nếu thái hậu Ang Cuv giữ một vai trò quan trọng trong cuộc can thiệp lần thứ nhất của Đàng Trong (1658 – 1659) thì đến cuộc can thiệp lần này, các bộ sử không nhắc đến bà. Có lẽ lúc này bà đã ngoài 70 tuổi nên không còn tham gia vào đời sống chính trị nữa, cũng có thể bà đã qua đời.

Dù sao đi nữa, những việc bà làm từ năm 1620 đã mang lại kết quả khả quan: vào cuối thế kỷ XVII, có hơn 4 vạn hộ di dân Đàng Trong (dân dư tứ vạn hộ) sống rải rác trên địa bàn “rộng nghìn dặm” ở vùng đông nam Chân Lạp1. Người Việt Nam trở thành thành phần dân cư đa số. Họ cần cù lao động, đổ mồ hôi, đôi khi đổ cả máu nữa để biến mảnh đất hoang sơ này thành một vùng trù phú. Họ lập nên làng xóm, bầu người đại diện để quản lý các vấn đề chung của cộng đồng, dựng phố chợ để trao đổi hàng hóa. Theo nhà sử học Philippe Devillers, khi người Việt Nam tới, một bộ phận người Chân Lạp ở lại chung sống một cách hòa hợp với người Việt Nam, những người khác đi ở nơi khác2, vì lúc đó đất rộng người thưa nên không có chuyện tranh giành.

Năm 1698, chúa Minh (Nguyễn Phúc Chu) cử thống suất Nguyễn Hữu Kính (còn gọi là Cảnh) vào nam, lập phủ Gia Định trên phần đất đã được người Việt Nam khai phá, bao gồm huyện Phước Long (có dinh Trấn Biên) và huyện Tân Bình (có dinh Phiên Trấn). Đến đây, giai đoạn lưu dân tự phát và tự quản kết thúc. Từ đây, vùng đất này chính thức nằm trong lãnh thổ Việt Nam, có hệ thống chính quyền các cấp (phủ, huyện, tổng, xã) dưới quyền các quan chức (lưu thủ, cai bạ, ký lục…) do triều đình Huế bổ nhiệm. Quá trình “di dân khẩn hoang trước, Nhà nước lập chính quyền sau” diễn ra một cách hòa bình, chứ không phải như một nhà nghiên cứu Campuchia ở Pháp đã viết một cách ác ý: “Chúa [Nguyễn] ở Huế ra lệnh dùng vũ lực chiếm các tỉnh Sài Gòn, Bà Rịa và Đồng Nai của Chân Lạp”3.

Tất cả những gì chúng ta biết đ ược về bà Ang Cuv là nhờ biên niên sử hoàng gia Chân Lạp cũng như các công trình nghiên cứu của các nhà sử học nước ngoài. Vì một lý do nào đó, các sử quan nhà Nguyễn hoàn toàn không nhắc đến cuộc hôn nhân Việt – Chân Lạp năm 1620 (cũng như các cuộc hôn nhân Việt – Nhật Bản và Việt – Chiêm Thành diễn ra trong cùng thời kỳ ấy).

Vì không thấy Quốc sử quán nhà Nguyễn nói tới nên năm 1992, một nhà nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra giả thuyết “cho rằng hoàng hậu Somdach chỉ là một cô gái rất đẹp, con một lưu dân Việt Nam đã sống ở đồng bằng sông Cửu Long hay kinh đô Oudong của Chân Lạp. Người Việt Nam nào khi xa quê hương mà chẳng nhận mình là con ông cháu cha? Huống chi một hoàng hậu xinh đẹp lại không nhận mình là con dân của vua chúa Việt Nam được sao? Đâu có quá đáng (…). Cho nên không phải vì muốn tiểu thuyết hóa, mà chính vì sự thật, chúng tôi ngả về giả thuyết bà chỉ là thôn nữ lưu dân, hơn giả thuyết con đẻ của chúa Nguyễn”1.

1 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch của NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 77. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu phỏng tính: nếu mỗi hộ trung bình gồm 5 nhân khẩu thì dân số phủ Gia Định lúc đó khoảng 20 vạn người (Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tập I, tr. 157).

2 Philippe Devillers, sđd, tr. 22.
3 Mak Phoeun, “La frontière entre le Cambodge et le Vietnam du XVIIè siècle à l’instauration du protectorat franais, présentée à travers les chroniques royales khmères”, Les frontières du Vietnam (nhiều tác giả), NXB L’Harmattan, Paris, 1989, tr. 138.

Chúng tôi thấy giả thuyết này không hợp tình hợp lý. Cuộc hôn nhân năm 1620 nhằm những mục đích chính trị quan trọng: triều đình Udong muốn dựa vào lực lượng Đàng Trong để đối phó với mối đe dọa của Xiêm, trong khi triều đình Huế muốn đẩy mạnh bang giao với Chân Lạp để phát triển ảnh hưởng xuống phía nam. Chúa Sãi đã gả một con gái của mình cho một thương nhân Nhật Bản, thì hà cớ gì ông lại đánh tráo một cô “thôn nữ lưu dân” thành một công nữ để đáp lời cầu hôn chính thức của một quốc vương Chân Lạp? Việc tráo hôn là không cần thiết, lại nguy hiểm vì nếu bị phát hiện sẽ ảnh hưởng không tốt đến tình hữu nghị giữa hai nước.

ở thế kỷ XIII, cuộc hôn nhân Huyền Trân – Chế Mân đã đưa hai châu Ô và Rí vào bản đồ Đại Việt. Bà công chúa Đại Việt được đời sau nhớ ơn. Tên của bà được đặt cho đường phố. Mới đây nhân dân Huế đã lập một đền thờ tráng lệ để tôn vinh bà.

Hơn hai thế kỷ sau, cuộc hôn nhân của một công nữ họ Nguyễn với Chey Chêtthâ II tạo điều kiện cho người Đàng Trong vào làm ăn ở Chân Lạp, dẫn đến sự thành lập phủ Gia Định vào cuối thế kỷ XVII. Bất công thay sử quán nhà Nguyễn không hề nhắc tới “người phụ nữ đã đem về cho người Việt một vùng đất lớn”2 như nhận định của tiến sĩ Li Tana, khiến ngày nay hậu thế không biết bà là ai?

Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, chúa Sãi có bốn con gái. Hai công nữ thứ nhất và thứ tư là Ngọc Liên (vợ của phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh, tức Nguyễn Hữu Vĩnh, trấn thủ dinh Trấn Biên) và Ngọc Đĩnh (vợ của phó tướng Nguyễn Phúc Kiều, tức Nguyễn Cửu Kiều, trấn thủ dinh Quảng Bình). Đối với hai công nữ thứ hai và thứ ba là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, Đại Nam liệt truyện tiền biên ghi “khuyết truyện” (không có tiểu sử)3.

Như vậy, trong hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, ai là hoàng hậu Xứ Chùa Tháp, ai là phu nhân của thương gia Nhật Bản?4.

Tr ước đây, khá nhiều người cho rằng hoàng hậu Ang Cuv chính là công nữ Ngọc Vạn. Nhóm biên soạn Nguyễn Phúc tộc thế phả (NXB Thuận Hóa, Huế, 1995) thừa nhận như vậy. Từ điển bách khoa Việt Nam (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003, tập III, tr. 125) cũng viết như vậy. Gần đây một số người lại cho rằng vợ của thương gia Araki Soutarou mới là công nữ Ngọc Vạn1.

1 Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam Kỳ Lục tỉnh, Hội Sử học Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1992, tr. 33.
2 Li Tana, sđd, tr. 173.
3 Đại Nam liệt truyện tiền biên, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 67
4 ở đây, chúng tôi loại trừ trường hợp bà hoàng hậu Chiêm Thành. Theo truyền thuyết do hai tác giả Dohamide và Dorohiêm kể trong Dân tộc Chàm lược sử (Hiệp hội Chàm Hồi giáo xuất bản, Sài Gòn, 1965, tr. 149-150), chúa Nguyễn không chính thức gả con gái cho vua Chiêm Thành Po Rome. Gerald C. Hickey cho người phụ nữ đó là “một phụ nữ thuộc triều đình họ Nguyễn” (Sons of the Mountains, Yale University Press, New Haven và London, 1982, tr. 89) chứ không khẳng định là con gái của chúa Nguyễn. Trong một chuyến đi nghiên cứu ở vùng Bình Thuận, Ninh Thuận và Tây Nguyên, giáo sư Nghiêm Thẩm được người dân cho biết tên người phụ nữ ấy là Ngọc Linh (Thái Văn Kiểm, sđd, tr. 51).

Tất cả chỉ dựa trên sự phỏng đoán chứ không căn cứ vào một tài liệu thành văn nào, nên độ tin cậy chưa cao.

Để nhớ ơn ng ười phụ nữ đã đóng góp lớn vào công cuộc mở đất phương Nam, thiết nghĩ các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn còn trách nhiệm tìm lời giải đáp cho câu hỏi nêu trên.

1 Vũ Minh Giang, “Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An”, Đô thị cổ Hội An (nhiều tác giả), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 211; Trịnh Tiến Thuận, Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thế kỷ XVI – XVII (luận án tiến sĩ sử học), Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2002, tr. 113.

Entry filed under: Kỷ yếu hội thảo. Tags: .

Tiếp cận những yếu tố giúp Nguyễn Ánh thành công trong việc xây dựng vương triều Nguyễn SỰ THỊNH SUY CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG Ở ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII – XVIII

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

Trackback this post  |  Subscribe to the comments via RSS Feed


NIKKI

June 2010
M T W T F S S
« May    
 123456
78910111213
14151617181920
21222324252627
282930  

Đường link đến Facebook

RSS Huy Minh

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Huy Đức

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Mr. Do

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Trương Duy Nhất

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Nguyễn Xuân Diện

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Hương Trà

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

Recent Comments

bhanh8 on CHÚA NGUYỄN VÀ VƯƠNG TRIỀU NGU…
minhphuong on Cây tre
minhphuong on Cây tre
tay on ĐIẾU HÀ TÂY TỈNH
thuy on Cây tre

Liên Hiệp Quốc

free counters

Bạn là ai? Bạn từ đâu tới?

Thống kê

wordpress blog stats

Khách đến chơi nhà


%d bloggers like this: