Những vấn đề về tiền thời chúa Nguyễn

BS. Nguyễn Anh Huy*
Thị Trường mới khai phá:

Ngày nay, trong khoảng những năm cuối thế kỷ XX và những năm đầu thế kỷ XXI, sự khai canh rà tìm phế liệu dọc miền duyên hải từ sông Gianh trở vào, thường tìm thấy nhiều tiền cổ Trung Quốc trước nửa đầu thế kỷ XVII, có thể cả hàng tấn1. Những sự kiện này đã trở thành chuyện hết sức bình thường đối với giới buôn tiền cổ, nhưng dưới tầm nhìn của nhà nghiên cứu, các phát hiện này rất cần tìm hiểu ý nghĩa lịch sử của nó.

Chính sử n ước ta, việc ghi chép cách sử dụng tiền tệ ở xứ Đàng Trong thế kỷ XVI-XVII rất tiếc là quá sơ sài. Christophoro Borri, một người châu Âu đến Đàng Trong (Việt Nam) năm 1621 cho biết: “Người Tàu và người Nhật là những người làm thương mại chính yếu ở xứ Đàng Trong”2. Và theo thống kê số lượng thuyền có cấp giấy phép châu ấn, do chính quyền Nhật cấp cho các thuyền buôn Nhật Bản xuống Đông Nam á, trong 30 năm (1604-1635) gồm 356 thuyền, thì trong đó có 87 thuyền đến Đàng Trong, chiếm số lượng cao nhất3.

Sở dĩ th ương gia Trung – Nhật thích buôn bán nhiều ở Đàng Trong, ngoại trừ đây là vùng đất mới có nhiều của ngon vật lạ, còn có những điểm thuận lợi là ở đây nằm trong khối đồng văn, cùng tiếng nói chữ viết; hơn nữa, tình hình an ninh rất ổn định: “Canh Ngọ, năm thứ 13… Chúa [Nguyễn Hoàng] bèn kiêm lãnh hai xứ Thuận Hóa, Quảng Nam… Bấy giờ chúa ở trấn hơn 10 năm, chính sự rộng rãi, quân lệnh nghiêm, nhân dân đều yên cư lạc nghiệp, chợ không hai giá, không có trộm cướp. Thuyền buôn các nước đến nhiều. Trấn trở nên nơi đô hội lớn”4; ngoài ra, các chúa còn khôn ngoan: “Chúa [Nguyễn Phúc Nguyên] lên nối ngôi… vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục…”5“chúa Đàng Trong không đóng cửa trước một quốc gia nào, ngài để cho tự do và mở cửa cho tất cả người ngoại quốc”6.

* Hội Sử học Thừa Thiên – Huế
1 Chẳng hạn xem báo Tuổi trẻ Chủ nhật số 16 năm 2003 (ra ngày 27/4/2003) có bài “Đất tiền cổ” của Nguyễn Quốc Khương; bài “Nhộn nhịp mua bán tiền cổ” trên báo Lao Động ra ngày 7/9/2004; hoặc bài “Quảng Bình: Hàng tấn tiền cổ được phát hiện… và biến mất” của Hồng Lam –

Tâm Phùng trên An ninh Thế giới số 172 ra ngày 3/11/2004.
2 Christophoro Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, NXB Thành phố HCM, 1998, Tr. 89.
3 Nguyễn Văn Kim, Quan hệ của Nhật Bản với Đông Nam á thế kỷ 15-17, NXB Đại học Quốc gia Hà Nội, 2003. Bảng 3.1, Tr. 125-126.
4 Quốc sử quán triều Nguyễn (Nguyễn Ngọc Tỉnh dịch), Đại Nam Thực Lục, NXB Giáo Dục, Đà Nẵng 2004, Tập 1, Tr 29-31.
5 Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, Tr 38.
6 Christophoro Borri, sđd, Tr.92.

Hiện Nhật Bản vẫn còn l ưu trữ “Ngoại phiên thông thư”, là những thư từ giao dịch quốc tế của Nhật thời Edo (1603-1867); trong đó có 56 bức thư của chúa Trịnh và chúa Nguyễn gởi cho Mạc phủ Tokugawa và những thư trả lời của Mạc phủ từ năm 1601 đến 1694. Nội dung nhiều thư cho thấy các chúa rất coi trọng quan hệ với Nhật Bản, luôn tạo thuận lợi cho tàu buôn Nhật Bản “thông qua thương nghiệp để nối tình hữu nghị giữa hai nước”1.

Một số hình ảnh tiền đồng Thái Bình Thông Bảo của chúa Nguyễn.
NHU CầU CấP THIếT

Giữa xứ Đàng Trong và khối đồng văn nh ư Trung Quốc, Nhật Bản, Triều Tiên đều sử dụng chung một loại tiền và không phân biệt; mối quan hệ ngoại thương đã được rất nhiều nhà nghiên cứu tổng hợp2, ở đây chỉ trích dẫn một vài điều có liên quan đến

tiền tệ.

Từ thế kỷ XV đến giữa thế kỷ XVI, ng ười Nhật đã nhập tiền Vĩnh Lạc Thông Bảo từ Trung Quốc để sử dụng. Nhưng đến năm 1608, chính quyền Nhật cấm các loại tiền này đ Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, Tr 38.

1 Christophoro Borri, sđd, Tr.92.
1 Kawamoto Kuniye, “Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn cứ theo Ngoại phiên thông thư”, Đô thị cổ Hội An, NXB KHXH, Hà Nội, 1991, Tr. 171.

1 Chẳng hạn như: – Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ 17, 18 và đầu 19, NXB Sử học, Hà Nội, 1961. – Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, 2001. – LiTana, Xứ Đàng Trong -Lịch sử, kinh ể chuẩn hóa tiền nước mình; và đây là cơ hội để các thương gia Nhật đem các loại tiền cũ này xuống bán cho Đàng Trong1 mà người Hà Lan gọi là “món hàng có lời nhất”2 :

1 Kawamoto Kuniye, “Nhận thức quốc tế của chúa Nguyễn ở Quảng Nam căn cứ theo Ngoại phiên thông thư”, Đô thị cổ Hội An, NXB KHXH, Hà Nội, 1991, Tr. 171.
2 Chẳng hạn như: – Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ 17, 18 và đầu 19, NXB Sử học, Hà Nội, 1961. – Phan Khoang, Việt sử xứ Đàng Trong, NXB Văn học, 2001. – LiTana, Xứ Đàng Trong -Lịch sử, kinh tế, xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, NXB Trẻ, 1999.

– Tháng giêng năm 1637, lái Hà Lan đã mang đến cửa Hàn (Tourane – Đà Nẵng) 13.500.000 đồng zènes [tiền đồng của Nhật]3.

– Ngoài ng ười Hà Lan ra, người Trung Quốc cũng đem đến Đàng Trong một số lượng lớn tiền kim loại Nhật. Chẳng hạn vào tháng 9/1637, 4 chiếc thuyền của người Hoa chở từ Nhật tới Đàng Trong… 2 triệu zènes4.

“Tiền đồng này là một món hàng nhập cảng được đòi hỏi nhiều nhất ở Đàng Trong… Những lái Nhật thật là những tay cạnh tranh đáng sợ. Những tiền đồng họ mang ở Nhật sang, bao giờ họ cũng bán lại cho những kiều dân Nhật ở Faifoo [Hội An]…”5.

Ban đầu, các chúa Đàng Trong mua tiền đồng này chủ yếu để đúc súng chống lại Đàng Ngoài. Nhưng trong một môi trường kinh tế hàng hóa, những loại tiền này lại trở thành nhu cầu sử dụng hóa tệ ngày càng tăng :

“Thời gian giữa các năm 1659 và 1684,… cho phép các niên trưởng thành phố Nagasaki lập một sở đúc tiền để sản xuất các đồng tiền nhái lại các đồng tiền cũ của Trung Hoa để xuất khẩu”6.

“Thuyền Nhật… đổi hàng ở Trung Quốc… nhất là đồng… các thuyền mua (đem đến Đàng Trong) từ Quảng Đông : tiền đúc được lãi rất nhiều…”7.

– Thị tr ường Quảng Nam đắt nhất là hàng của Trung Hoa như tơ sống, đồ dệt bằng tơ, vải Nam Kinh với các loại đồ sành sứ. Ngoài ra lại còn hai thứ hàng khác cũng bán chạy nữa là sách in và đồng đỏ…8.

Sự giao l ưu thương mại phát triển rộng mở, do vậy lưu thông tiền tệ là một nhu cầu thiết yếu. Nhưng mãi đến năm 1688, ở Đàng Trong vẫn thiếu khối lượng tiền lưu hành; như ta thấy bức thư của chúa Nguyễn Phúc Thái, phó thác cho một chủ thuyền người Trung Hoa tên Hoàng Khoan Quan đem hàng hóa qua Nagasaki mua bán và trình Shogun Dyemitsu (Mạc Phủ Đức Xuyên) thỉnh cầu đúc tiền đồng viện trợ, như sau: “… Quý quốc và quốc gia tôi xa nhau… Nghe nói rằng ngày xưa, tuy xa nhau vẫn có quốc giao… Tôi thầm nghĩ, nước tôi bây giờ cần rất nhiều kinh phí cho lưu thông tiền tệ, nhưng kỹ thuật chế tạo tiền tệ không có, nên đành phải gác vấn đề tài chính lại. Tôi nghe rằng, ở quý quốc sản xuất đồng tốt, và chế tạo tiền tùy theo nhu cầu. Nếu thật như thế, tại sao không chế thật nhiều tiền bằng đồng để cứu những nước nghèo về tiền tệ. Điều mong muốn đối với quý quốc là quý quốc làm luật lưu thông tiền tệ ở nước ngoài, và giao dịch ở nước tôi và hai quốc gia chúng ta cùng được lợi…”1.

1 LiTana, sđd, Tr.136.
2 Dagh, Register gehouden int Casteel Batavia Vant, dẫn lại theo LiTana, sđd, Tr. 138.
3 Thành Thế Vỹ, sđd, Tr.148.
4 W.J.Buch, De Oost – Indische Compangie en Quinam, Amsterdam, H.J. Paris, 1929. Dẫn lại theo LiTana, sđd, Tr.138.
5 W.J.Buch, La Compagnie des Indes Néerlandaises et l’Indochine, dẫn lại theo Thành Thế Vỹ, sđd, Tr. 104.
6 Innes, The door ajar: Japan’s foreign trade in the 17th century, luận án tiến sĩ, University of Michigan, 1980, dẫn lại theo LiTana, sđd, Tr.138-139.
7 Bowyear, Nhật ký về Đàng Trong năm 1695, dẫn lại theo Thành Thế Vỹ, sđd, Tr. 226-227.
8 ChengChingHo, “Thập thất bát thế kỷ chi Hội An Đường nhân nhai nhập kỳ thương nghiệp” (nguyên bản chữ Hán), Tân á học báo, quyển 3, số 1, HongKong, 1960, Tr. 273-332.

LầN THEO THƯ TịCH

Minh v ương Nguyễn Phúc Chu (1675-1725) làm bài thơ “Thuận Hóa vãn thị” trong đó có câu: “Thời cô bạch tửu năng diên khách / Nhật dụng thanh tiền khước tiện dân”2, hàm ý thời ấy chúa đúc ra tiền bằng đồng thau (thanh tiền) là một việc giúp cho dân tiện lợi khi sử dụng hằng ngày.

Đại Nam Thực Lục cho biết: ất Tỵ (1725), tháng 4, mùa hạ, Nguyễn Phúc Thụ mới lên ngôi “Đúc thêm tiền đồng. Buổi quốc sơ thường đúc tiền đồng nhỏ (in hai chữ Thái Bình), lại có tiền cũ và tiền Khang Hy nhà Thanh, dân gian vẫn thông dụng. Bấy giờ có người huỷ tiền để đúc đồ dùng, số tiền cũ ngày một hao, cho nên có lệnh đúc thêm”3.

Sự ghi chép việc sử dụng tiền tệ thời chúa không rõ ràng, tôi cố gắng tìm tòi cũng chỉ thêm vài điều đơn giản: “Các đồng tiền Khai Nguyên nhà Đường cùng các đồng tiền niên hiệu Thuần Hóa và niên hiệu Tường Phù nhà Tống đều được đúc bằng thứ đồng thật tốt và đúc thật kỹ lưỡng nên chôn cất dưới đất cũng không hư hỏng… Năm Giáp Tý, quân của Vương thượng vào đất Thuận Hóa tịch thu các kho công. Người ta tìm thấy số tiền xâu bằng lòi mây đến ngoài ba mươi vạn quan… Như vậy chúng ta mới biết trước kia khách buôn đã chuyên chở trộm số tiền ấy vào nước ta rất nhiều vậy”4.

1 Kawamoto Kuniye, sđd, Tr. 177.
2 Phạm Hy Tùng, Cổ vật gốm sứ Việt Nam đặt làm tại Trung Hoa, NXB Văn hóa Sài Gòn, 2006, Tr

110.
3 Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, Tr.139.
4 Lê Quý Đôn (Lê Xuân Giáo dịch), Phủ Biên Tạp Lục, Phủ Quốc vụ khanh đặc trách văn hóa, Sài

Gòn, 1972. Tập 2, Tr. 45,46.

LiTana, sđd, Tr.235-236 có giải thích rằng: “Bị ảnh hưởng bởi nền văn hóa Trung Hoa, Lê Quý Đôn đôi khi đã nhầm tiền đồng Nhật thành tiền đồng Trung Hoa. Chẳng hạn ông nói là vào năm 1774 quân của chúa Trịnh đã tìm thấy hơn 300.000 quan tiền đồng tốt nhất trong kho của họ Nguyễn tại Huế… Theo ông, đa số là tiền đồng Trung Hoa thời Tống (960-1279), và khi họ Nguyễn đúc tiền kẽm vào thập niên 1740, họ đã nhái lại dáng kiểu của đồng tiền Tường Phù của Trung Hoa (1008-1016). Tuy nhiên, nếu chúng ta so sánh đồng tiền kẽm có khắc các chữ Tường Phù Thông Bảo, rất có thể là do họ Nguyễn đúc vào thập niên 1740, chúng ta sẽ thấy là nó khác với đồng Tường Phù của Trung Hoa đời nhà Tống. Phải hơn, đồng tiền này nhái lại đồng Shofu Gempo [Tường Phù Nguyên Bảo] của Nhật, một trong những đồng tiền Nhật phổ biến nhất được đúc theo đồng tiền của Trung Hoa đời nhà Tống và nhà Minh. Đồng tiền này được đúc tại Nagasaki giữa các năm 1659 và 1684, cũng có những chữ Hán như vậy nhưng theo một mẫu khác. Do đó, rất có thể là trong số 300.000 quan tiền đồng tìm thấy trong kho của họ Nguyễn vào năm 1774,một phần lớn là tiền Nhật”.
Cách giải thích trên của LiTana hoàn toàn đúng theo lối lý luận, nhưng không chính xác vì thực tế tôi tìm hiểu nhiều thì thấy tiền lưu hành ở Đàng Trong đa số là tiền Trung Quốc, còn tiền Nhật

Vấn đề đúc tiền và sử dụng tiền ở giai đoạn quốc sơ này chỉ ở hình thức đơn giản như hóa tệ trung gian trao đổi, mỗi đồng tiền ăn 1 đồng, chưa có sự đột biến về mệnh giá đồng tiền cũng như chưa có nhiều loại hình tiền tệ.

Năm 1776, Lê Quý Đôn ghi lại một sự kiện ở xứ Đàng Trong: “Nguyễn gia lệ sơ kế tập y dạng chú tiểu gian tiền dụng Thái Bình tự, kim dân gian sảo tồn nhất nhị diệt dĩ tam đương nhất”1, mà Lê Xuân Giáo dịch là “Theo lệ cũ nhà Nguyễn, người nào mới được nối ngôi chúa thì cứ theo kiểu mẫu tiền cũ mà đúc, ở khoảng nhỏ đồng tiền cũng đề hai chữ Thái Bình. Ngày nay, ở trong dân gian thỉnh thoảng vẫn còn thấy một hai đồng tiền ấy, thường cứ 3 đồng tiền này mới ăn 1 đồng”.

Tiền Gia Long Thông Bảo, mặt lưng có hai chữ “Thái Bình”. Tiền đồng
Thái Bình
Phong Bảo.

ĐặC ĐIểM THựC Tế

Qua các cuộc dò tìm phế liệu, các cuộc khai quật có tìm thấy tiền cổ… tôi nhận thấy ở xứ Đàng Trong trước đây đã lưu hành phần lớn là các loại tiền mang niên hiệu thời Đường – Tống, một số ít niên hiệu Nguyên – Minh – Thanh và một số là tiền có hiệu rất lạ. Dựa vào đặc điểm, chất liệu, thư pháp1, tôi đã phân loại chúng thành những dòng tiền sau:

cũng có nh ưng số lượng rất ít, như vậy cách giải thích của Lê Quý Đôn phù hợp thực tế hơn. Ngay cả tiền mậu dịch của Nhật đúc tại Nagasaki cũng chỉ sử dụng lại các hiệu tiền của Trung Quốc, vậy thì việc chúa Nguyễn nhờ Hoa kiều đúc tiền cho mình như tiền Tường Phù Nguyên Bảo (chứ không phải “Thông Bảo” như Li Tana nói) thì hiệu tiền này cũng lấy lại theo hiệu tiền Trung Quốc chứ không thể giải thích là theo kiểu Nhật.

1 Lê Quý Đôn, sđd, Tr. 46.

– Phần lớn là tiền Trung Quốc chính thực: là các loại tiền bằng đồng thau, đ ường kính khoảng 24mm, mang các niên hiệu Đường – Tống – Nguyên – Minh rất dễ nhận biết và dễ tìm thấy.

– Một số loại tiền mang niên hiệu thời Tống nh ư Nguyên Phong Thông Bảo, Hy Ninh Nguyên Bảo, Gia Hựu Thông Bảo, Tường Phù Nguyên Bảo, Thiệu Thánh Nguyên Bảo, Thiên Thánh Nguyên Bảo… nhưng đúc to, dày, đẹp, chuẩn, sắc, mang thư pháp chữ Nhật, là tiền mậu dịch quốc tế được đúc vào thời Go-Sain Tenno (Hậu Tây thiên hoàng – Vạn Trị nhị niên, 1659) tại Nagasaki2.

– Một dòng tiền bằng đồng đỏ gồm 21 hiệu tiền thời Đ ường – Tống và các hiệu lạ, đường kính khoảng 22,5-23mm có màu gỉ nâu đen, đã được tôi nhận định là do chúa Nguyễn Phúc Thụ mua đồng đỏ của Nhật đúc từ năm 17253.
– Một dòng tiền bằng đồng thau, nhỏ mỏng khoảng 20mm, khoảng 45 hiệu tiền, mang các niên hiệu thời trước kể cả Trung Quốc lẫn Việt Nam và các hiệu lạ, đã được tôi nhận định là do Mạc Thiên Tứ đúc tại Hà Tiên từ năm 17364.

– Một dòng tiền mang niên hiệu Đ ường – Tống… và các hiệu lạ, khoảng 85 hiệu tiền, đường kính khoảng 23mm, bằng kẽm, thư pháp đặc điểm khác hẳn các loại tiền Trung Quốc, đã được tôi nhận định là tiền kẽm do chúa Nguyễn Phúc Khoát đúc từ năm 17465.

– Một dòng tiền Thái Bình Thông Bảo bằng đồng thau, đ ường kính khoảng 23mm, có rất nhiều đặc điểm riêng biệt, đã được nhiều nhà nghiên cứu tiền cổ trên thế giới cho là do các đời đầu chúa Nguyễn đúc nhưng không giải thích gì. Đây là dòng tiền tôi đang lưu ý tìm cách nhận định và bàn luận.

– Một số loại tiền tạp chủng, chưa phân lập được.

Thật ra, cho đến nay, các nhà s ưu tập đã tìm thấy các hiệu tiền Thái Bình như sau: Thái Bình Thông Bảo, Thái Bình Nguyên Bảo, Thái Bình Phong Bảo, Thái Bình Tống Bảo, Thái Bình Thánh Bảo, Thái Bình Pháp Bảo, Thái Bình Hưng Bảo. Ngoại trừ tiền Thái Bình Hưng Bảo đã được xác định là của Đinh Tiên Hoàng (968-979); tiền đồng đỏ Thái Bình Thông Bảo là do chúa Nguyễn Phúc Thụ đúc từ năm 1725; tiền đồng thau nhỏ mỏng (20-21mm) Thái Bình Thông Bảo, Thái Bình Thánh Bảo, Thái Bình Pháp Bảo là do Mạc Thiên Tứ đúc tại Hà Tiên từ năm 1746; tiền Thái Bình Nguyên Bảo và một loại Thái Bình Thông Bảo mang đặc điểm của tiền Trung Quốc nên đã loại trừ ở đây; chỉ còn tiền Thái Bình Thông Bảo và Thái Bình Phong Bảo nhưng cũng có rất nhiều loại, sách của Miuria Gosen (1966) cũng như nhiều nhà sưu tập đã giới thiệu, xem kỹ chúng ta có thể thấy các loại chính sau:

1 Nguyễn Anh Huy, Đặt lại nền tảng của phương pháp nghiên cứu tiền cổ Đông á, tạp chí Khảo Cổ Học , số 1 năm 1996, Tr. 21-30.
2 Ogawa Hiroshi, Đông Dương cổ tiền, Giá cách đồ phổ (sách chữ Nhật), Tokyo, 1973, Tr 15-16, số thứ tự từ 100-111.
3 Nguyễn Anh Huy, “Những phát hiện mới về tiền đồng đỏ thời chúa Nguyễn”, tạp chí Khảo Cổ Học , số 2 năm 2003, Tr. 79-86.
4 Nguyễn Anh Huy, “Những phát hiện mới về họ Mạc đúc tiền ??”, tạp chí Khảo Cổ Học , số 3 năm 2001, Tr. 51-62.
5 Nguyễn Anh Huy, “Những phát hiện mới về tiền kẽm thời chúa Nguyễn”, tạp chí Khảo Cổ Học , số 1 năm 1998, Tr. 97-103.

1. Thái Bình Thông Bảo 23mm; lưng tiền ngoài vành và gờ viền lỗ vuông, không có dấu hiệu gì.

2. L ưng tiền có điểm sao trên lỗ vuông.
3. Lưng tiền có một vòng tròn ngoại tiếp lỗ vuông.
4. Lưng tiền có một vòng tròn sát trong gờ viền, và một điểm sao trên lỗ vuông.
5. Lưng tiền có hai điểm sao trên lỗ vuông.
6. Lưng tiền có chữ “đồng” trên lỗ vuông.

7, L ưng tiền có nét “nhất” trên lỗ vuông, dưới lỗ vuông có dấu chấm và phẩy; hoặc nếu dấu chấm và phẩy trên lỗ vuông, thì nét “nhất” dưới lỗ vuông1.
8. Thái Bình Phong Bảo bằng đồng thau, đường kính khoảng 23mm, mặt lưng có nét “nhất” trên lỗ vuông, dưới lỗ vuông có dấu chấm và phẩy.

9. Thái Bình Thông Bảo bằng đồng thau, đường kính 20mm, lỗ vuông rất lớn so với đồng tiền.

Tất nhiên rằng mỗi loại có thể có nhiều chi tiết khác nhau, nh ưng chúng ta nên hiểu ngày xưa khuôn đúc tiền đất sét làm bằng thủ công, do vậy các đồng tiền phần lớn đều có khác nhau, nhưng chung quy là có các loại tiền Thái Bình như vậy, và chúng đều có một nét chung rất riêng biệt là:

– Hai nét điểm của chữ “bình” tuy nhiều cách điểm khác nhau, nh ưng hoàn toàn khác cách điểm trong tiền Trung Quốc, và lại giống cách điểm trong tiền Thái Bình bằng đồng đỏ hoặc bằng kẽm của chúa Nguyễn.
– Lưng các loại tiền trên tuy có các dấu hiệu khác nhau, nhưng xem kỹ vẫn thấy cùng đặc điểm, tương đồng, và khác hẳn các dòng tiền khác.

– Vành đồng tiền và gờ viền lỗ vuông ở mặt l ưng bè rộng giống tiền Gia Thái Thông Bảo của Lê Thế Tông (1573-1577) và Vĩnh Thọ Thông Bảo của Lê Thần Tông (1658- 1661).
– Có một loại tiền Thái Bình Thông Bảo to, dày, đẹp có gờ viền lỗ vuông ở mặt lưng rất mảnh khác hẳn các loại kia, thì lại rất giống đặc điểm của tiền kẽm thời chúa Nguyễn (1746).

1 Một vài ý kiến cho rằng ký hiệu lạ trên mặt lưng của tiền Thái Bình này chính là ký tự dạng Katakana hoặc Hiragana của tiếng Nhật Bản, như vậy các loại tiền Thái Bình này chính là do người Nhật (có thể là Nhật kiều ở Hội An) đúc. Nhưng cách giải thích này không hợp lý vì chỉ một ký tự trong các dấu hiệu lạ ở lưng đồng tiền là giống mẫu tự Katakana, còn lại thì không phải, như vậy là không đồng nhất !

– Loại tiền Thái Bình tuy nhỏ 20mm, nhưng lỗ vuông có cạnh rất lớn so với đồng tiền, nên mang đặc diểm của tiền kẽm thời chúa Nguyễn.
GIảI THíCH NHậN ĐịNH
So sánh các đặc điểm riêng biệt của chủng loại tiền Thái Bình vừa kể với các chủng tiền khác, có thể nhận định rằng:

Do các chúa Nguyễn đời đầu mới di dân vào Nam, đã đem theo các thợ thủ công nghiệp ở Tây Đô (Thanh Hóa – là nơi trung hưng của triều Lê), cho nên tiền Thái Bình của chúa Nguyễn đã mang dáng dấp của tiền Gia Thái triều Lê.

Do “ng ười nào mới được nối ngôi chúa thì cứ theo kiểu mẫu tiền cũ mà đúc”, cho nên dòng tiền Thái Bình này tuy mặt trước giống nhau, nhưng mặt lưng khác nhau, biểu hiện những khuôn đúc, đợt đúc khác nhau. Và vì không có chứng lý gì khác để phân biệt thời gian đúc, cho nên ngày nay chúng ta không thể phân biệt được loại nào do chúa nào đúc, trừ một vài loại sẽ bình luận sau.

Do từ năm 1746, chúa Nguyễn Phúc Khoát (1738-1765) bắt dầu cho đúc tiền kẽm (trong đó có cả tiền hiệu Thái Bình), mà từ năm 1744, chúa lại xưng vương, nên tôi cho rằng loại tiền đồng Thái Bình to dày đẹp mang đặc điểm tiền kẽm đã nói, rất có thể được chúa đúc vào dịp xưng vương.

Do từ năm 1736, Đô đốc Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên đã đ ược phép bắt đầu đúc tiền nhỏ mỏng 20mm, các loại tiền này cũng được lưu hành đến Thuận Hóa là thủ phủ xứ Đàng Trong, nên tôi cho rằng loại tiền Thái Bình Thông Bảo bằng đồng nhỏ 20mm (mang đặc điểm dòng tiền Thái Bình của chúa Nguyễn, chứ không mang đặc điểm dòng tiền của Mạc Thiên Tứ), chắc chắn chỉ do chúa Nguyễn Phúc Khoát hoặc Nguyễn Phúc Thuần (1765-1777) đúc, vì:

Tìm hiểu lại lịch sử tiền tệ Việt Nam, từ thế kỷ XVII trở về tr ước, mệnh giá đồng tiền rất ổn định (mỗi đồng tiền ăn 1 đồng), nhưng sang thế kỷ XVIII, do xuất hiện dòng tiền bằng đồng nhỏ mỏng của Mạc Thiên Tứ và lạm phát tiền kẽm, mới có sự đột biến về mệnh giá đồng tiền (2 hoặc 3 đồng mới ăn 1 đồng). Cho nên khi Lê Quý Đôn vào Thuận Hóa (sau năm 1774) thì loại tiền Thái Bình Thông Bảo bằng đồng nhỏ 20mm đã được lưu hành rộng rãi, và nhân đó chép vào Phủ Biên Tạp Lục rằng “thường cứ 3 đồng tiền này mới ăn 1 đồng”.

Nh ưng tại sao Lê Quý Đôn lại chép là “Nguyễn gia lệ sơ kế tập y dạng chú tiểu gian tiền dụng Thái Bình tự, kim dân gian sảo tồn nhất nhị diệt dĩ tam đương nhất” (tạm hiểu: thời khai quốc, các chúa Nguyễn mới nối ngôi đều theo lệ từ trước mà đúc tiền cỡ nhỏ hiệu Thái Bình; ngày nay, trong dân gian vẫn còn một hai phần loại tiền ấy, thường cứ 3 đồng tiền này mới ăn 1 đồng) ? Có phải loại tiền Thái Bình Thông Bảo bằng đồng nhỏ 20mm này đã được đúc từ thời quốc sơ, tức những đời đầu của chúa Nguyễn ???

Ta thấy sử ghi, từ đầu thế kỷ XVIII, “Bấy giờ có ng ười huỷ tiền để đúc đồ dùng, số tiền cũ ngày một hao, cho nên có lệnh đúc thêm”. Như vậy, các loại tiền Thái Bình 23mm do các chúa Nguyễn đời đầu đúc, đến đầu thế kỷ XVIII đều bị dân gan huỷ để đúc đồ dùng, trở nên hiếm hoi; và Lê Quý Đôn không được thấy những đồng tiền Thái Bình to dày 23mm này, mà chỉ thấy những đồng tiền nhỏ 20mm (do được đúc sau các đợt huỷ) đang lưu hành rộng rãi, nên đã chép lại bị nhầm như thế. Và đây lại là căn cứ gốc để Quốc sử quán triều Nguyễn dựa vào đó mà diễn nghĩa thành: “Buổi quốc sơ thường đúc tiền đồng nhỏ (in hai chữ Thái Bình)”.

ý nghĩa lịch sử

Phóng khoáng cởi mở, hòa cùng tâm nguyện “phản Thanh phục Minh” của Hoa kiều, các chúa nguyễn sẵn sàng cho tàn quân Đại Minh trú ngụ rộng rãi ở Đàng Trong, nhờ đó được họ giúp đỡ nhiều về phương diện kinh tế:

Chúa Nguyễn từng nhờ Hoa kiều đem th ư sang Nagasaki trình Mạc Phủ Tokugawa (Đức Xuyên Mạc Phủ) thỉnh đúc giúp tiền đồng, sau đó mua được đồng đỏ của Nhật Bản để bắt đầu đúc ra hệ thống tiền đồng đỏ từ năm 1725. Sau khi hoàn tất cuộc Nam tiến, chúa cho cha con người Tàu là Mạc Cửu và Mạc Thiên Tứ làm đô đốc trấn Hà Tiên. Năm 1736, chúa cho Thiên Tứ mở cục đúc tiền để thông thương hải ngoại. Năm 1746, chúa lại nghe lời người Hoa họ Hoàng, mua kẽm trắng của Tây, mở cục đúc tiền ở Lương Quán (Huế) cho tiện việc tiêu dùng.

Sự xuất hiện của 3 hệ thống tiền ở xứ Đàng Trong đã đẩy nền kinh tế khu vực này phát triển mạnh mẽ, một vùng văn hóa Phú Xuân. Bởi chúng ta biết được: có một xã hội lớn đã khuất vào dĩ vãng, cũng nhờ dư âm vang dội và những di tích còn mang nhiều nét đậm khó phai. Cùng những chứng cứ khảo cổ học khác như đô hội cổ, thương cảng cổ, bến cũ nhà xưa, với những di vật gốm sứ, bi ký, chuông vạc… những đồng tiền cổ cũng phần nào giúp tái tạo diện mạo một xã hội với cảnh tượng sinh hoạt ồn ào hàng mấy trăm năm. Lần theo dấu vết phiêu du của tiền cổ, từ những lò đúc đến các đô thị rồi vượt sóng sang những chân trời hải ngoại xa xăm, chúng ta phần nào hiểu được tầm cỡ giao lưu thương mại quốc tế rộng lớn của các chúa. Và nhờ vậy, Đàng Trong được xem là một trong những trạm trung chuyển hàng hóa giữa các trung tâm vùng, trung tâm liên vùng với trung tâm liên thế giới.

Riêng về dòng tiền Thái Bình, từ các chứng lý trên, có thể nhận định rằng nhu cầu sử dụng tiền của các đời đầu chúa Nguyễn là rất cấp thiết; và việc các chúa đúc ra tiền Thái Bình như sử ghi đã đem lại sự tiện lợi (“khước tiện dân”) trong giao dịch thương mại, nên dược dân chúng hoan nghênh. Tuy nhiên, sự thống kê tạm thời của chúng tôi chỉ mới thấy có 9 loại tiền khác nhau, phần nào gần trùng hợp con số 9 của 9 đời chúa Nguyễn.

Chúng ta còn nhớ, sự nghiệp vào Nam “Hoành sơn nhất đái, vạn đại dung thân” của Thái tổ Nguyễn Hoàng là để thoát khỏi sự bức hại của họ Trịnh, tạo sự tự do (“thái bình”) cho mình; và lúc lâm chung, Thái Tổ đã dạy hoàng tử thứ 6 (tức chúa Sãi – Nguyễn Phúc Nguyên) những lời sau: “-Đất Thuận Quảng phía bắc có núi Ngang [Hoành Sơn] và sông Gianh [Linh Giang] hiểm trở, … thật là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân luyện binh để chống chọi lại với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời. Ví bằng thế lực không địch được, thì cố giữ vững đất đai để chờ cơ hội, chứ đừng bỏ qua lời dặn của ta”1. Và những lời di huấn này đã được các chúa đời sau thực hiện bằng những cuộc phân tranh “-Ta không thụ sắc!”, dám ly khai với Đàng Ngoài, cát cứ Đàng Trong tạo nền móng mới để xây dựng cõi “thái bình” thịnh vượng một thời.

Vì thế, hai chữ “Thái Bình” trên hệ thống tiền mà các chúa theo lệ phải đúc, làm tôi thiển nghĩ, liệu đó có phải chính là một hình thức để luôn ghi nhớ sự tích “từ thuở mang gươm đi mở nước”, cũng như để nhắc nhở di huấn (“đừng bỏ qua lời dặn của ta”) của chúa Tiên?

Cũng bởi sau này, khi Thế tổ Nguyễn Phúc ánh nhất thống từ Gia Định đến Thăng Long, đã cho đúc một loại tiền Gia Long Thông Bảo mặt lưng lại có hai chữ “Thái Bình” viết theo lối triện2. Điều này càng làm tôi băn khoăn: -Có phải Thế Tổ viết hai chữ “Thái Bình” theo lối triện trên đồng tiền Gia Long, như muốn khẳng định rằng chính mình đã hoàn tất di mệnh của tổ tiên?

1 Quốc sử quán triều Nguyễn, sđd, Tr.37.
2 Miuria Gosen, An Nam tuyền phổ, Lịch đại tiền bộ (sách chữ Nhật), Nhật Bản, 1966, Tr 93.

04/06/2010 at 3:39 PM Leave a comment

SỰ THỊNH SUY CỦA HOẠT ĐỘNG NGOẠI THƯƠNG Ở ĐÀNG TRONG THẾ KỶ XVII – XVIII

ThS. Nguyễn Thị Huê*

Vùng đất Thuận – Quảng, một trung tâm kinh tế quan trọng của miền Trung, có tài nguyên và nguồn lâm thổ sản phong phú, có những cảng biển nổi tiếng đã từng thu hút thương khách nước ngoài trong nhiều thế kỷ trước đó. Đối với Nguyễn Hoàng, việc tận dụng và phát huy những tiềm năng của xứ Thuận – Quảng để nó có khả năng đảm bảo cho một tương lai chính trị mà thuở ra đi ông đã bắt đầu toan tính là những việc làm tiên quyết. Nhận thấy những hạn chế của điều kiện tự nhiên đối với cư dân nông nghiệp vùng khô, Nguyễn Hoàng và sau đó là Nguyễn Phúc Nguyên đã xác lập một chiến lược phát triển mới với những bước đi và hình thức khác biệt nhằm hòa nhập mạnh mẽ hơn với những bước chuyển biến chung của khu vực. Cách thức lựa chọn con đường phát triển đó đã đưa Đàng Trong hội nhập với mô hình phát triển chung của hầu hết các quốc gia Đông Nam á lúc bấy giờ là hướng ra biển. Phát triển ngoại thương đã trở thành một chiến lược kinh tế liên quan đến sự sống còn của thể chế mà các chúa Nguyễn ra công tạo dựng.

Với chủ tr ương trọng thương, các chính sách khuyến khích kinh tế đối ngoại của các chúa Nguyễn đã có tác dụng cổ vũ ngoại thương Đàng Trong. Vào thế kỷ XVII – XVIII, Đàng Trong đã có quan hệ buôn bán với nhiều quốc gia, trong đó có những quốc gia có nền kinh tế hàng hóa phát triển thuộc loại bậc nhất của thế giới. Hầu hết các cường quốc kinh tế lúc bấy giờ, cả ở châu á lẫn châu Âu đều đến và thiết lập quan hệ giao thương với chính quyền Đàng Trong.

Buôn bán với các nước phương Đông

Trong lịch sử th ương mại Đại Việt, chưa bao giờ quan hệ buôn bán với Nhật Bản phát triển thịnh đạt như bốn thập kỷ đầu của thế kỷ XVII. Mặc dù thời đại Châu ấn thuyền ở Đàng Trong không kéo dài, song việc buôn bán của người Nhật tại vùng đất này để lại nhiều dấu ấn đậm nét. Số lượng Châu ấn thuyền hàng năm đến Đàng Trong luôn đứng đầu danh sách các nước có quan hệ mua bán với Nhật Bản1. Phố Nhật ở Hội An ra đời là do nhu cầu của thương mại, nhưng đồng thời nó cũng là kết quả phát triển của quan hệ thương mại hai nước. Chưa có nơi nào trên đất châu á mà thương điếm của người Nhật có qui mô và năng lực hoạt động có hiệu quả như thương điếm của họ đặt tại Hội An. Buôn bán với người Nhật đóng vai trò quan trọng trong nền thương mại Đàng Trong.

* Đại Học Văn hoá TP HCM.
1 Thành Thế Vỹ, Ngoại thương Việt Nam hồi thế kỷ XVII, XVIII và đầu thế kỷ XIX, Nxb Sử học, 1961, tr..9 đã dẫn theo Peri trong cuốn Sơ thảo về sự giao thiệp giữa Nhật Bản và Đông Dương vào những thế kỷ XVI và XVII, cho biết, trong 13 năm (từ 1604 đến 1616), có 186 thuyền buôn Nhật đã được cấp châu ấn đến buôn bán với các nước châu á. Trong đó, đến Đàng Ngoài là 11 chiếc, Đàng Trong là 42 chiếc, Champa là 5 chiếc, Campuchia là 25 chiếc, Xiêm là 37 chiếc, Philippin là 34 chiếc, Nam Trung Quốc là 18 chiếc, các nước khác là 18 chiếc.
Chen Ching Ho (Trần Kinh Hòa) cũng cho biết, từ năm 1604 đến 1634, có 162 Châu ấn thuyền đến Đại Việt và Cao Miên. Trong đó, có 35 chiếc đến Đàng Ngoài, 86 chiếc đến Đàng Trong, 41

Cùng với th ương nhân Nhật Bản, thương nhân Trung Quốc cũng có mặt khá sớm ở đất Đàng Trong. Từ rất lâu, Trung Quốc đã là một bạn hàng gần gũi của Đại Việt. Tuy nhiên, so với các triều đại trước đó, việc người Hoa đến buôn bán trên đất Đại Việt vào thế kỷ XVII – XVIII phát triển cao hơn nhiều với số lượng tàu thuyền và khối lượng hàng hóa lớn mà hàng năm họ mang tới Phố Hiến ở Đàng Ngoài cũng như Hội An ở Đàng Trong1. Sự xuất hiện phố người Hoa bên cạnh phố người Nhật tại Hội An nói lên sự phát triển quan hệ giao thương giữa hai nước. Khác với người Nhật, người Hoa từ Trung Quốc được phép đến buôn bán với Đàng Trong không chỉ trong buổi đầu nền thống trị của chúa Nguyễn mà còn kéo dài suốt thời kỳ sau đó. Hoạt động ngoại thương giữa Đàng Trong với Trung Quốc có ý nghĩa lớn trong việc thúc đẩy sự phát triển nền thương mại ở vùng đất mới mẻ này, nhất là nửa sau thế kỷ XVII và cả thế kỷ XVIII, khi chính phủ Nhật đã thực hiện lệnh tỏa quốc (1636) làm cho hoạt động của Châu ấn thuyền giảm dần vai trò của nó tại Hội An.

Buôn bán với các nước phương Tây

Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp là những n ước phương Tây có tiềm lực kinh tế lớn và có đội hải thương mạnh thuộc vào loại bậc nhất thế giới đã đến Đàng Trong đặt quan hệ thông thương. Thương nhân Bồ Đào Nha đến Đàng Trong sớm hơn Hà Lan, Anh nửa thế kỷ, và sớm hơn Pháp khoảng một thế kỷ. So với thương nhân các nước phương Tây khác, thương nhân Bồ Đào Nha gây được ảnh hưởng lớn trong nền thương mại Đàng Trong. Trong bối cảnh cạnh tranh khốc liệt bởi thương nhân Nhật Bản, Trung Quốc và cả với Hà Lan, Anh đang sung sức, lại không lập thương điếm tại Hội An, người Bồ tỏ ra là những lái buôn kiên trì, chịu khó. Họ là những lái buôn phương Tây đến Đàng Trong sớm nhất và rời khỏi Đàng Trong muộn nhất. Hà Lan là nước xông xáo trong quan hệ thương mại tại thị trường châu á. Việc buôn bán của người Hà Lan xem ra thuận lợi hơn khi Nhật Bản thực hiện chính sách tỏa cảng nhưng lại tiếp tục buôn bán với người Hà Lan, xem đó là một cửa ngõ thông thương với bên ngoài. Những ưu ái trong quan hệ Nhật – Hà tạo điều kiện cho công ty Đông ấn Hà Lan thay thế chỗ đứng của thương nhân Nhật tại Hội An. Song trên thực tế, Hà Lan không làm được điều đó, thương điếm của họ vừa mới mở lại không thể đi vào hoạt động. Tại Đàng Trong quan hệ giao thương giữa họ với chính quyền chúa Nguyễn tiến triển không tốt đẹp bởi sự liên minh của họ với chúa Trịnh trong cuộc chiến tranh chống lại chúa Nguyễn. Do vậy, đối với Hà Lan, quan hệ thương mại của họ ở Đại Việt chỉ phát triển mạnh ở Đàng Ngoài.

chiếc đến Cao Miên. (Theo Đô thị cổ Hội An (1991), Hội thảo quốc tế tổ chức tại Đà Nẵng ngày 23-3-1990. Nxb. KHXH, Hà Nội, tr. 184)

1 Li Tana cho biết, từ năm 1647 đến năm 1720, số ghe thuyền Trung Hoa từ các nước Đông Nam á tới Nhật Bản như sau: Đàng Ngoài: 63 chiếc, Đàng Trong: 203 chiếc, Campuchia: 109 chiếc, Xiêm: 138 chiếc, Patani: 49 chiếc, Malacca: 8 chiếc, Jakacta: 90 chiếc, Bantam: 3chiếc. (Dẫn theo Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18 (Nguyễn Nghị dịch). Nxb Trẻ, tr101.

Công ty Đông ấn Anh cũng có nhu cầu thâm nhập thị trường Đàng Trong vào đầu thế kỷ XVII, đồng thời chính quyền chúa Nguyễn cũng muốn thiết lập quan hệ giao thương với công ty này. Điều đó thể hiện rõ nét qua sự cố gắng của cả hai bên trong suốt gần 200 năm đặt quan hệ buôn bán. Nhưng cả hai bên chẳng đạt được những kết quả như mong muốn với những chuyến buôn qua lại thưa thớt. Người Pháp đến Đại Việt có phần muộn màng hơn với chuyến buôn đầu tiên đến Đàng Ngoài vào năm 1669. Sau một thời gian hoạt động ở Phố Hiến, đến đầu thế kỷ XVIII mới thực sự đến buôn bán với Đàng Trong. So với các nước phương Tây khác, trong quan hệ giao thương của Pháp tại đất Đàng Trong, Hội truyền giáo nước ngoài Paris (MEP) gần như có mặt trong tất cả các hoạt động thương mại. Ngoại thương mang mục đích quân sự là một trong những cản trở chính của việc thiết lập quan hệ buôn bán giữa Đàng Trong với Anh và Pháp.

Nh ư thế, việc buôn bán của người phương Tây trên đất Đàng Trong không mấy phát đạt. Số lượng thương thuyền của họ hàng năm đến Hội An không đều đặn, khối lượng hàng hóa được lưu thông chưa phải là nhiều. Song sự có mặt của thương nhân các nước phương Tây đã góp phần làm cho thương mại Đàng Trong nhộn nhịp hẳn lên. Hoạt động của các đội thương thuyền Bồ Đào Nha, Hà Lan, Anh và Pháp còn có ý nghĩa duy trì vai trò trung chuyển hàng hóa của cảng thị Hội An, cũng như thúc đẩy hoạt động thương mại tại các thương cảng “vệ tinh” của nó. Hội An tồn tại như chức năng là một trung tâm thương mại quốc tế là nhờ lực lượng thương thuyền phương Tây có mặt tại đây. Chính họ là những người thay thế vai trò của thương nhân Nhật Bản trong hệ thống thương mại của khu vực vào cuối thế kỷ XVII và cả thế kỷ XVIII.

Buôn bán giữa Đàng Trong với một số n ước trên thế giới trong hai thế kỷ XVII và XVIII có tầm quan trọng đặc biệt đến độ số tàu thuyền ngoại quốc đến Đàng Trong được xem là tiêu chuẩn để đánh giá thu nhập kinh tế hàng năm cao hay thấp. Trong một lần tiếp Thích Đại Sán, Chúa Nguyễn Phúc Chu nói: “Các năm trước, thuyền ngoại dương đến buôn, một năm chừng 6, 7 chiếc, năm nay (1695) số thuyền lên đến 16, 17 chiếc, trong nước nhờ đó tiêu dùng dư dật1. Theo nghiên cứu của Nguyễn Văn Kim thì: “Trong lịch sử Việt Nam (đến thế kỷ XVII – NTH), chưa bao giờ nền kinh tế hải thương lại có quan hệ mở rộng, đa dạng và phát triển hưng thịnh như giai đoạn thế kỷ XVI – XVII. Hầu hết các cường quốc kinh tế lúc bấy giờ, cả ở châu á và châu Âu, đều đến và thiết lập quan hệ trao đổi, buôn bán với Đàng Trong1. Đây là lần đầu tiên trong lịch sử dân tộc, sự thịnh vượng quốc gia tùy thuộc vào ngoại thương chứ không chỉ riêng nông nghiệp.

1 Thích Đại Sán, Hải ngoại kỷ sự. Dẫn theo Li Tana, Xứ Đàng Trong lịch sử kinh tế – xã hội Việt Nam thế kỷ XVII và XVIII, Nxb Trẻ, 1999, tr134.

Xem xét th ương mại ở các khía cạnh như có những đối tác mới trong quan hệ giao thương, mức độ nhộn nhịp của tàu thuyền, bến cảng, khối lượng hàng hóa tiêu thụ, lợi ích mà kinh tế thương mại mang lại cho chính quyền Đàng Trong… so với các thời kỳ lịch sử trước đó thì rõ ràng, thế kỷ XVII – XVIII được xem là thời kỳ thịnh đạt của thương mại Đàng Trong. Song đi vào chi tiết, cụ thể hơn thì quá trình phát triển này có thể tạm chia làm hai thời kỳ: Thời kỳ phát triển huy hoàng của thương mại Đàng Trong vào thế kỷ XVII, thời kỳ giảm dần và đi đến suy thoái của thương mại Đàng Trong vào thế kỷ XVIII.

Sau một thời kỳ phát triển sôi động của nền th ương mại vào thế kỷ XVII, do chịu sự tác động của nhiều yếu tố làm cho thương mại Đàng Trong ở thế kỷ XVIII kém dần sự sầm uất vốn có của nó. Sự suy thoái từng bước của thương mại Đàng Trong được biểu hiện ngay từ những năm đầu của thế kỷ XVIII, khi các quan hệ thương mại của người Đàng Trong đối với phương Tây giảm đi đáng kể và cả hai phía đã đánh mất đi tính hợp pháp có thể có để đảm bảo cho việc thiết lập quan hệ buôn bán thường xuyên. Việc trao đổi được thực hiện một cách đứt đoạn. Số lượng tàu thuyền hàng năm đến đây bị giảm sút rõ rệt nhất là từ giữa thế kỷ XVIII. Nếu như vào những năm 1740 – 1750, có từ 60 đến 80 thuyền buôn cập bến Đàng Trong mỗi năm, thì vào năm 1771 chỉ còn 16 thuyền, năm sau số thuyền giảm xuống còn 12 và năm 1773 chỉ còn 8 chiếc2. Như vậy, vào những năm 70 của thế kỷ XVIII, Đàng Trong đã thực sự rơi vào tình trạng suy thoái. Mặc dù cho đến thời điểm này, Hội An vẫn giữ được sự phồn thịnh của nó, song quan hệ giao thương với các nước gần như thu hẹp lại, chỉ còn lại Trung Quốc là khá mặn mà. Lê Quý Đôn đã phản ánh hiện trạng này của Hội An trong Phủ biên tạp lục: hàng hóa các nơi (ở Đàng Trong) “đều hội tập về Hội An, vì thế người khách phương Bắc đều tụ tập ở đây để mua về nước. Trước đây hàng hóa nhiều lắm, dù trăm chiếc tàu to chở cùng một lúc cũng không hết được3.

Sự thịnh – suy của nền th ương mại Đàng Trong vào thế kỷ XVII – XVIII chịu sự tác động của những nhân tố sau đây:
Bối cảnh thế giới và khu vực:

Chúa Nguyễn ở Đàng Trong cũng nh ư chúa Trịnh ở Đàng Ngoài tỏ ra năng động, kịp thời hội nhập với xu thế thời đại, tạo ra được động lực thúc đẩy sự phát triển kinh tế trong bối cảnh chính trị xã hội phức tạp của đất nước. Cũng như thế, khi thương mại khu vực giảm dần vai trò kinh tế của nó vào thế kỷ XVIII, thì tác động cùng chiều với Đại Việt tất yếu diễn ra.

1 Nguyễn Văn Kim, Xứ Đàng Trong trong các mối quan hệ và tương tác quyền lực khu vực, Nghiên cứu lịch sử , số 6 – 2006, tr23.
2 Nguyễn Kim (2006), Xứ Đàng Trong trong các mối quan hệ và tương tác quyền lực khu vực, NCLS số 6 – 2006, tr19 – 35).
3 Lê Quý Đôn toàn tập, T.1: Phủ biên tạp lục, Nxb. Khoa học xã hội, 1977, tr234.

Tác động của các nhân tố trong n ước: Trong bối cảnh Đại Việt thế kỷ XVII, cuộc chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Trịnh – Nguyễn được xem như một trong những nhân tố kích thích sự nỗ lực của chính quyền hai bên tìm mọi cách để phát triển hơn nữa quan hệ giao thương với các nước bên ngoài, nhằm tranh thủ sức mạnh quân sự, tăng tiềm lực kinh tế của mình. Ngược lại, các nước bên ngoài cũng lợi dụng tình hình chiến tranh để bán vũ khí và các mặt hàng cần thiết nhằm tăng nhanh lợi nhuận. Sang thế kỷ XVIII, chiến tranh Trịnh – Nguyễn đã kết thúc, nhân tố chiến tranh không còn có ý nghĩa kích thích sự phát triển của nền thương mại Đại Việt. Chính quyền chúa Nguyễn tỏ ra khắt khe hơn đối với thương nhân phương Tây. Đồng thời, các công ty buôn bán nước ngoài thường chú trọng nhiều đến việc đặt quan hệ thông thương chặt chẽ hơn, xoay sở để có những ký kết buôn bán rành rọt, dứt khoát hơn. Lợi ích thương mại giữa hai bên xem ra không còn theo chiều tỉ lệ thuận.

Vào thế kỷ XVIII, chủ nghĩa t ư bản phát triển cao hơn một bước, việc tranh giành thị trường trở nên quyết liệt hơn. Giao lưu buôn bán với các nước phương Đông không phải chỉ là công việc của các thương nhân phương Tây mà còn là công việc của các nhà nước phương Tây đương thời đang mong muốn xâm nhập lãnh thổ nước ta. Việc buôn bán của các công ty Đông ấn thường kèm theo nhiệm vụ điều tra tỉ mỉ tình hình đất nước, chuẩn bị cho những kế hoạch thôn tính đất đai về sau. Điều đó làm cho chúa Nguyễn phải dè dặt hơn trong việc tiếp xúc và giao lưu buôn bán với các nước phương Tây.

Trong khi tình hình chính trị thế giới, trong n ước vào thế kỷ XVIII tác động không thuận lợi đến sự phát triển thương mại, thì nền kinh tế Đàng Trong đương thời phát triển chưa cao, đã không tạo được cơ sở vững chắc cho sự phát triển mạnh mẽ hơn của công thương nghiệp, sản phẩm trao đổi còn mang nặng tính tự nhiên. Giao thương giữa Đàng Trong với bên ngoài có vẻ bị động do không có sự thúc đẩy mạnh mẽ của cơ sở kinh tế bên trong.

Khởi nghĩa nông dân Tây Sơn là hệ quả của những chính sách nhằm đối phó với sự khủng hoảng về kinh tế – xã hội của chính quyền Đàng Trong, đồng thời lại là một nhân tố góp phẩn đẩy nhanh sự suy thoái của nền kinh tế nói chung và ngoại thương nói riêng. Thiếu một môi trường hoà bình cho hoạt động buôn bán, hơn nữa nội chiến vào cuối thế kỷ XVIII làm cho các cảng thị, các trung tâm buôn bán bị tàn phá nặng nề. Hội An không còn nguyên vẹn sau cuộc tấn công của quân Trịnh vào năm 1774; Cù Lao Phố bị phá trụi bởi cuộc tấn công của Tây Sơn chống quân Nguyễn vào 1776 – 1777…

Cũng vào thời điểm xuất hiện nhiều sự kiện bất lợi cho hoạt động giao th ương giữa Đàng Trong với các nước bên ngoài thì yếu tố tự nhiên đã từng phát huy lợi thế của nó trong hơn một thế kỷ, nay lại tác động cản trở. Quá trình bồi cạn các cửa sông nơi có cảng thị ở Đàng Trong, đặc biệt là cửa sông đi vào Hội An đã làm cho nó chỉ còn là một thị trấn tách biệt với bên ngoài. Vai trò là một trung tâm thương mại quốc tế giảm dần và biến mất. Tuy nhiên, sự hủy hoại của tự nhiên cũng như bởi cuộc chiến tranh cuối thế kỷ XVIII không phải là những nguyên nhân quan trọng, bởi cảng thị Đà Nẵng, Bến Nghé có khả năng thay thế dần vai trò của nó.

04/06/2010 at 3:37 PM Leave a comment

ĐÓNG GÓP CỦA MỘT CÔNG NỮ HỌ NGUYỄN VÀO CÔNG CUỘC MỞ ĐẤT PHƯƠNG NAM TRONG THẾ KỶ XVII

TS. Phan Văn Hoàng*

1. Cuộc hôn nhân Việt – Chân Lạp năm 1620
1.1. Mối đe dọa từ Xiêm

Năm 1350, nước Xiêm định đô ở Ayuthya (hay Ayudhya). Từ đó, vương quốc này trở thành mối đe dọa thường trực đối với nước láng giềng Chân Lạp.

Chỉ một năm sau đó, 1351, vua Xiêm Râmâdhipati đích thân cầm quân bao vây kinh đô Angkor (cách Ayuthya khoảng 100 cây số). Biên niên sử Chân Lạp chép: “Người ta chỉ còn nghe tiếng than khóc của muôn dân; các tướng lĩnh, các chỉ huy cứ chết dần chết mòn; chim chóc hót một cách sầu thảm trong kinh thành bị bao vây”1. Sau khi chiếm được Angkor, vua Xiêm bắt khoảng 90% cư dân của kinh đô về Ayuthya làm nô lệ, mang theo vô số chiến lợi phẩm, rồi đặt con trai của mình là Chau Basath lên làm vua Chân Lạp, cử bà con trong dòng họ mình chia nhau cai trị các tỉnh.

Cứ vài chục năm, cảnh ấy lại tái diễn.

Vua Xiêm Ramesuen lại đánh chiếm Chân Lạp, giết vua n ước này là Dhammâsoka (1393) rồi đưa con trai mình là Ento lên ngôi báu (1394), bắt 7 vạn người Chân Lạp đem về Xiêm, cướp đi nhiều tượng Phật quí.

Năm 1430, vua Xiêm Paramaraja II thân chinh xua quân bao vây Angkor trong 7 tháng trời trước khi chiếm được kinh đô. Cảnh đốt phá cung điện và cướp bóc của cải lại diễn ra.

Sau khi quân Xiêm rút về n ước, vua Chân Lạp Soryopor quyết định bỏ Angkor, dời đô về phía đông cho xa biên giới với Xiêm, lúc đầu về Srei Santhor (1433), năm sau dời tiếp đến Chaturmukha (tức Phnom Penh ngày nay).

Nhưng Xiêm chưa chịu từ bỏ tham vọng xâm lăng Chân Lạp.

Năm 1472, Xiêm chiếm cố đô Angkor cùng các tỉnh Korat và Chantaboun, rồi tiến quân về Chaturmukha. Vua Chân Lạp Râmathupdey đầu hàng, bị bắt đưa về Ayuthya và bị bỏ đói cho đến chết.

Năm 1528, vua Chân Lạp Ang Chan I dời đô lên Lôvek.
Năm 1583, hoàng tử Xiêm Phra Naret dẫn 10 vạn quân sang chiếm 2 tỉnh Battambang và Pursat.
* Khoa Lịch sử – Đại học Sư phạm TP Hồ Chí Minh
1 A. Dauphin-Meunier, Histoire du Cambodge, Presses Universitaires de France, Paris, 1961, tr. 57

M ười năm sau, Phra Naret (lúc này đã lên ngôi vua) tấn công Lôvek, thề “sẽ rửa chân bằng máu của cha con Sâtha I”1. Thượng hoàng Sâtha I cùng con là vua Chey Chêttha I chạy trốn sang Lào rồi chết ở đó. Quân Xiêm chiếm kinh đô (1594), phá hủy hoàng cung và chùa chiền, đốt kinh kệ, sách luật và sách sử, cướp kho tàng, lấy đi nhiều tượng bằng đá quí và bắt nhiều người Chân Lạp đem về Xiêm.

1.2. Chỗ dựa ở Đàng Trong

Chân Lạp từng là một đế quốc hùng mạnh với nền văn minh Angkor rực rỡ một góc trời Đông Nam á. Chẳng lẽ Chân Lạp mãi mãi là nạn nhân của tham vọng bành trướng đến từ phía Tây? Trên Tập san của trường Viễn Đông bác cổ của Pháp (Bulletin de l’Ecole francaise d’Extreme-Orient, viet tắt là BEFEO) số LXXIII năm 1984, hai nhà nghiên cứu Mak Phoeun và Po Dharma viết: “Mối bận tâm chính của các quốc vương Chân Lạp trong chính sách đối ngoại là sự đe dọa của Xiêm, bởi vì nước này không từ bỏ kế hoạch xâm lấn Chân Lạp và đặt Chân Lạp dưới sự bảo hộ của Xiêm. Một phần vì để có thể toàn tâm toàn ý đối phó với sự đe dọa của Xiêm mà vua Paramaraja VII (Sri Suriyobarm2), vào cuối thời gian trị vì của ông, đã chấp nhận kết giao với chúa Sãi”3 của Đàng Trong.

Paramaraja VII có ý định “kết giao với chúa Sãi” nh ưng ông quá ốm yếu sau tám năm bị quản thúc ở Xiêm (1594 – 1603) và chết năm 1619. Người thực hiện ý định ấy là con trai của ông, Chey Chêtthâ IITên vị vua này được phiên âm sang chữ La-tinh bằng nhiều hình thức khác nhau: Chey Chêtthâ, Chey Chetta, Cheychesda, Cheychessda, Jayajettha…, làm vua từ 1618 – 1628..

Từng trải qua những năm tháng tủi nhục của ng ười dân mất nước khi bị giam giữ ở Xiêm cùng với cha, Chey Chêtthâ II có tinh thần yêu nước nồng nàn, ngày đêm nghĩ đến phương kế bảo vệ nền độc lập của nước nhà. Năm 1620, tức hai năm sau khi lên ngôi báu, Chey Chêtthâ II có hai quyết định quan trọng:

– Dời kinh đô từ Lôvek xuống Udong (Udong sẽ là kinh đô của vương quốc Chân Lạp trong hai thế kỷ rưỡi, từ 1620 đến 1867).
– Cầu hôn con gái của chúa Sãi, mặc dù trước đó Chey Chêtthâ II đã có ít nhất hai bà vợ người Chân Lạp và người Lào.

Đây là một cuộc hôn nhân mang tính chất chính trị. Các nhà nghiên cứu đều nhận định: “Chey Chêtthâ II tìm sự yểm trợ của Triều đình Huế nhằm quân bình với sức ép của Xiêm”4.

Tuy Đàng Trong lúc đó còn là một bộ phận của v ương quốc Đại Việt, chiến tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài mãi đến 7 năm sau mới bùng nổ, nhưng quan hệ giữa hai bên đã rất căng thẳng. Trên danh nghĩa, các chúa Nguyễn vẫn tôn phù nhà Lê, song trong thâm tâm, họ đang ra sức xây dựng lực lượng mọi mặt nhằm tách Đàng Trong thành một nước riêng biệt để hùng cứ một phương.

1 A. Dauphin-Meunier, sđd, tr. 64.
2 Tức Soriopor, làm vua từ 1603 đến 1618.
3 Mak Phoeun và Po Dharma, “La première intervention militaire Vietnamienne au Cambodge (1658 – 1659)”, BEFEO, 1984, số LXXIII, tr. 300.
4 A. Dauphin-Meunier, sđd, tr. 72

Vâng lời dặn dò của cha (Nguyễn Hoàng, tức chúa Tiên) lúc lâm chung (1613) – Đàng Trong “là đất dụng võ của người anh hùng. Nếu biết dạy dân, luyện binh để chống chọi với họ Trịnh thì đủ xây dựng cơ nghiệp muôn đời”1 – Nguyễn Phúc Nguyên (tức chúa Sãi) ngày đêm lo “sửa thành lũy, đặt quan ải, vỗ về quân dân, trong ngoài đâu cũng vui phục”2.

Trong cuốn “T ường thuật về chuyến truyền giáo mới của các linh mục Dòng Tên tại vương quốc Đàng Trong” (Relatione della nouva missione delli PP della Compangia di Giese al Rengo della Cocincina)3, giáo sĩ người ý Cristoforo Borri (sống ở Đàng Trong từ 1618 đến 1622) nhận xét: “Thế lực của chúa [Sãi] rất mạnh”. Khi cần, chúa Sãi “có thể cho tuyển ngay được 80.000 quân binh chiến đấu”. Quân đội “được đối xử tốt (…) và được trả lương cao” nên “họ chiến đấu rất anh dũng”. Về hải quân, “chúa Đàng Trong luôn luôn có tới 100 thuyền chiến”, “mỗi thuyền có súng đại bác và nhiều súng musqueton”. “Vũ khí của Đàng Trong đã lừng danh và nổi tiếng khắp các nơi qua đường biển cũng như đường bộ”4.

Chúa Sãi còn chủ tr ương mở rộng quan hệ ngoại giao và ngoại thương với các nước nhằm phát triển Đàng Trong thành một xứ giàu mạnh. Theo tiến sĩ Li Tana, “phải đương đầu với họ Trịnh ở phía Bắc, họ Nguyễn hẳn không thể gây thêm kẻ thù để sẽ phải bị tấn công từ phía hông hoặc từ phía sau (…). Đối với hai phía biển và núi, họ Nguyễn mặc dù đang bận bịu với nhiều công việc, cũng cố tìm cách thiết lập các liên minh, thay vì chống lại”5.

Một trong những “cách thiết lập các liên minh” là hôn nhân.

Năm 1619, chúa Sãi gả một con gái của mình cho th ương nhân Nhật Araki Soutarou (Hoang Mộc Tông Thái Lang), ban cho người này quốc tính và tên Việt Nam (Nguyễn Hiển Hùng). Araki Soutarou “trở thành hoàng thân ở Đàng Trong”6.

Năm 1620, chúa Sãi chấp nhận lời cầu hôn của quốc v ương Chân Lạp. Li Tana nhận xét: “Cuộc hôn nhân ban đầu xem ra nằm trong chiến lược phòng thủ hơn là tấn công”7: ngoài mục đích xây dựng sự hòa hiếu với một lân bang, cuộc hôn nhân đó nhằm tạo cơ hội để đông đảo di dân Đàng Trong vào khai phá vùng đất còn hoang vu ở phía đông nam Chân Lạp.

1 Đại Nam thực lục tiền biên, bản dịch của Viện Sử học, NXB Sử học, Hà Nội, 1962, tập I, tr. 44.
2 Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 47.
3 Xuất bản ở Roma (ý) năm 1631
4 Cristoforo Borri, Xứ Đàng Trong năm 1621, bản dịch của Hồng Nhuệ Nguyễn Khắc Xuyên và Nguyễn Nghị, NXB Thành phố Hồ Chí Minh, 1998, tr. 84, 85, 86.
5 Li Tana, Xứ Đàng Trong – Lịch sử kinh tếxã hội Việt Nam thế kỷ 17 và 18, bản dịch của Nguyễn Nghị, NXB Trẻ, Tp. Hồ Chí Minh, 1999, tr. 102
6 Li Tana, sđd, tr. 94
7 Li Tana, sđd, tr. 172

2. Những đóng góp của bà Ang Cuv vào công cuộc mở đất phương Nam
2.1. Với tư cách là hoàng hậu (1620 – 1628)

Các sử gia ph ương Tây (như Jean Moura, Georges Maspero, Henri Russier…) đều ca ngợi công nữ xứ Đàng Trong rất đẹp (“très belle”, “d’une grande beauté”)1. Hơn thế nữa, bà được giáo dục từ nhỏ trong nền đạo đức Phật giáo2 nên hội nhập một cách dễ dàng và nhanh chóng vào môi trường văn hóa của Chân Lạp – nơi mà tuyệt đại đa số dân chúng là Phật tử.

Do đó, tuy Chey Chêtthâ II đã có ít nhất hai vợ, cô gái Huế thùy mị nết na ấy vẫn “rất được yêu quí vì sắc đẹp và đức tính của bà”3 và được phong làm “Đệ nhất Hoàng hậu” (la première reine)4 với tước hiệu “Somdach Prea Peaccac Vodey Prea Voreac Khsattrey5. Biên niên sử hoàng gia Chân Lạp gọi bà là Hoàng hậu Ang Cuv6.

Các sử gia ph ương Tây cũng nhất trí thừa nhận: bà có ảnh hưởng lớn đối với vua7 nên cuộc hôn nhân Chey Chêtthâ II – Ang Cuv mở ra một chương mới trong lịch sử quan hệ Đàng Trong – Chân Lạp.

Để việc liên lạc giữa hai triều đình đ ược chặt chẽ và thường xuyên, một sứ quán thường trực (ambassade à demeure) của Đàng Trong được thiết lập tại kinh đô Udong. Hai bên thường trao đổi các sứ bộ để thắt chặt tình đoàn kết và tương trợ. Chẳng hạn, Cristoforo Borri kể về sứ bộ Đàng Trong sang Chân Lạp năm 1621 được cầm đầu bởi một “người quen thuộc, đã tới lui nhiều lần, từng làm đại diện thường trú từ lâu [ở Udong] chứ không phải sứ giả mới tới lần đầu”8.

Một trong những yêu cầu tha thiết nhất của Chey Chêtthâ II cũng nh ư của triều thần và nhân dân Chân Lạp lúc đó là Đàng Trong giúp tăng cường khả năng quốc phòng để Chân Lạp bảo vệ độc lập và toàn vẹn lãnh thổ. Chúa Sãi đáp ứng một cách thuận lợi. Theo Cristoforo Borri, chúa Sãi “chuẩn bị vũ khí liên tục và mộ binh giúp vua Campuchia, cung cấp cho vua này thuyền chiến và quân binh để cầm cự với vua Xiêm”9.

1 Jean Moura, Le Royaume du Cambodge, Paris, 1883, tập II, tr. 61
2 Cha của bà là một Phật tử thuần thành, được dân chúng gọi là chúa Phật hay chúa Sãi (Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 47)
3 Nguyễn Văn Quế, Histoire des pays de l’Union Indochinoise (Việt-Nam – Cambodge – Laos), Imprimerie Nguyen-Khac, Sài Gòn, 1932, tr. 263.
4 Henri Russier, sđd, tr. 57
5 Jean Moura, sđd, tập II, tr. 57.
6 Mak Phoeun, Chronique royale du Cambodge de 1594 à 1677 – Traduction franaise avec comparaison des différentes versions et introduction, EFEO xuất bản, Paris, 1981, tr. 120.
7 Georges Maspero, sđd, tr. 61; Marguerite Giteau, Histoire du Cambodge, Paris, 1957, tr. 82
8 Cristoforo Borri, trích dịch trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh (Trần Văn Giàu chủ biên), NXB Tp. Hồ Chí Minh, 1987, tập I, tr. 148.
9 Cristoforo Borri, sđd, tr. 84.

Tức giận tr ước việc Chân Lạp nhận viện trợ quân sự của Đàng Trong, cuối năm 1621 – đầu năm 1622, vua Xiêm xua hai đạo quân sang đánh Chân Lạp. Với vũ khí và binh sĩ được Đàng Trong chi viện, Chey Chêtthâ II đích thân chỉ huy tướng sĩ tiêu diệt một đạo quân Xiêm ở Bâribaur, còn hoàng đệ Utey1 đẩy lui đạo quân thứ hai của Xiêm ở Bantey Meas.

Năm sau, Xiêm tấn công Chân Lạp một lần nữa để trả thù. Nhưng cũng như lần trước, quân Xiêm bị tổn thất nặng nề và phải tháo chạy về nước.

Các sử gia ph ương Tây đều kết luận: Chân Lạp hai lần giành được chiến thắng trước quân Xiêm là nhờ sự giúp đỡ về mặt quân sự của Đàng Trong2. Trong hai chiến thắng đó, có sự đóng góp của quân tình nguyện Việt Nam lần đầu tiên tham chiến ở Xứ Chùa Tháp.

Nhân dân Chân Lạp đã từng chịu đựng muôn vàn gian khổ và tang tóc do quân xâm lược từ phía tây gây ra nên đánh giá cao sự giúp đỡ của Đàng Trong. Điều đó thể hiện qua cảnh đón tiếp sứ bộ của chúa Nguyễn đến kinh đô Udong: “Sứ bộ gồm khá đông người, cả quan lẫn lính, vừa nam vừa nữ, chuyên chở trên những chiếc thuyền lớn có trang bị võ khí và bài trí lộng lẫy. Khi sứ bộ tới kinh đô Udong thì dân chúng Khơme, thương nhân Bồ Đào Nha, Nhật Bản và Trung Hoa đã tụ hội đông đảo để đón tiếp và hoan nghênh”3.

Để hoàng hậu đỡ nhớ quê h ương, Chey Chêtthâ II cho phép nhiều người Đàng Trong đến sinh sống trên lãnh thổ Chân Lạp. Một số buôn bán hay làm thợ thủ công ở vùng kinh đô, “có người được giữ chức hệ trọng trong triều”4. Nhưng đông đảo hơn là những người đến làm ăn ở vùng đông nam của Chân Lạp.

Lãnh thổ Chân Lạp t ương đối rộng, nhưng dân số Chân Lạp lại ít, nên người dân chủ yếu sống tập trung ở vùng đất màu mỡ xung quanh Biển Hồ (Tonle Sap) hay dọc theo sông Mekong. Vùng đông nam của Chân Lạp vẫn còn bỏ hoang. Giáo sĩ người Pháp Alexandre de Rhodes (1591 – 1660) cho biết: cho đến thế kỷ XVII, vùng đất đó vẫn còn “quạnh hiu, hoang mạc” và “không có vật gì thuộc về sự sống”5. Theo nhà sử học Philippe Devillers, trước khi người Việt đến, “đồng bằng sông Cửu Long chỉ là đầm lầy hôi thối, những bãi bùn và cây đước rộng mênh mông”6.

1 Còn viết Outey, Uday, em ruột của Chey Chêtthâ II. Cuốn Lịch sử Campuchia từ nguồn gốc đến ngày nay của Phạm Việt Trung, Nguyễn Xuân Kỳ và Đỗ Văn Nhung (NXB Đại học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1982, tr. 156) đã nhầm khi viết Utey là con của Chey Chêtthâ II và làm vua từ 1628 đến 1642.

2 Henri Russier, sđd, tr. 57; M.L. Jean, Mémento des candidats aux examens et concours administratifs, Sài Gòn, 1948, tr. 74.
3 Cristoforo Borri, trích dịch trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tập I, tr.
4 André Migot, Les Khmers des origines d’Angkor au Cambodge d’aujourd’hui, Paris, 1960, tr. 54
5 Trích dẫn trong Đồng bằng sông Cửu Long – Nghiên cứu phát triển (Nguyễn Công Bình chủ biên), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1995, tr. 33.
6 Philippe Devillers, Histoire du Vietnam de 1940 à 1952, NXB Seuil, Paris, 1952, tr. 22

Từ cuối thế kỷ XVI, một số ng ười Việt rời quê hương đến đây để làm ruộng, đánh cá… Các cuộc di dân ấy mang tính tự phát, lẻ tẻ. Chỉ từ năm 1620 trở đi, nhờ sự can thiệp của hoàng hậu Ang Cuv, số lượng người Việt vào đây mới bắt đầu tăng lên đáng kể. Trong lúc Chân Lạp chưa đủ nhân công và tiền của để khai phá một cách qui mô vùng đất còn hoang dã đó, triều đình Udong muốn nhờ tới sức lao động của lưu dân Việt Nam. Mặt khác khi di dân Đàng Trong có mặt ở đây, triều đình Huế sẽ có trách nhiệm nhiều hơn trong việc giúp đỡ Chân Lạp đối phó với nạn xâm lăng từ phiá tây.

Năm 1623, sau hai chiến thắng của Chân Lạp, chúa Sãi gửi “một sứ bộ mang theo rất nhiều tặng phẩm đến [Udong] để đảm bảo với Chey Chêtthâ II về sự ủng hộ và tình hữu nghị của triều đình Huế”1.

Vào thời điểm đó, số di dân Đàng Trong ở các địa ph ương như Preah Suakea (Bà Rịa), Kâmpéâp Srêkatrey (Biên Hòa), Kas Krobei (Bến Nghé, nay là Sài Gòn), Prei Nokor (Chợ Lớn)… đã đông hơn trước. Biên niên sử chép tay của Chân Lạp ghi: “Sứ thần của chúa Đàng Trong mang đến quốc vương Chân Lạp Chey Chêtthâ II một bức thư trong đó chúa Đàng Trong ngỏ ý muốn mượn xứ Prei Nokor và Kas Krobei của Chân Lạp để lập các trạm thuế thương chính”2 trong thời gian 5 năm3.

Theo Henri Russier, “hoàng hậu [Ang Cuv] năn nỉ chồng để yêu cầu của những người đồng hương của bà được chấp nhận”4. Mặt khác, theo Mak Phoeun và Po Dharma, “chính sự đe dọa [của Xiêm] khiến Chey Chêtthâ II chấp nhận lời yêu cầu của Việt Nam”5.

Tuy vậy, Chey Chêtthâ II không đơn ph ương quyết định mà đưa vấn đề ra cho triều thần cùng thảo luận. Vẫn theo Biên niên sử chép tay của Chân Lạp, “sau khi tham khảo ý kiến các quan thượng thư, Chey Chêtthâ II thuận theo yêu cầu của chúa Đàng Trong và gửi cho ông này một bức thư cho biết ông chấp nhận điều mà chúa Đàng Trong yêu cầu”6.

Năm 1624, hoàng hậu Ang Cuv sinh hạ công chúa Ang Na Ksatri. Chey Chêtthâ II rất yêu quý con gái7.
Hạnh phúc đang tràn trề thì tiếc thay, Chey Chêtthâ II băng hà (1628). Tuy triều đại Chey Chêtthâ II không dài (1618 – 1628) nhưng được đánh giá cao nhờ:

1 A. Dauphin-Meunier, Le Cambodge, Nouvelles Editions Latines, Paris, 1955, tr. 56.
2 Annales manuscrites du Cambodge, trích dịch trong Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tập I, tr. 147
3 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 292.
4 Henri Russier, sđd, tr. 58.
5 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 300.
6 Annales manuscrites du Cambodge, sđd, tập I, tr. 147
7 Trong 8 năm chung sống với Chey Chêtthâ II, bà Ang Cuv chỉ có một con gái. Một số tác giả không chính xác khi viết bà có con trai là Chau Ponhéa To (Thái Văn Kiểm, Đất Việt trời Nam, NXB Nguồn sống, Sài Gòn, 1960, tr. 43) hay Batom Reachea Patouna Raja và Ang Nan (Nguyễn Đắc Xuân, Chuyện các bà trong cung Nguyễn, NXB Thuận Hóa, Huế, 1997).

– Đối nội: tình hình chính trị ổn định, kinh tế – xã hội phát triển, thương nhân các nước đến làm ăn đông đảo…
– Đối ngoại: hai lần đập tan âm mưu bành trướng của Xiêm, bảo vệ được chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Chân Lạp.
2.2. Với tư cách là thái hậu (1628 – ?)

Sau năm 1628, sự tranh giành ngôi báu – khi ngấm ngầm, lúc công khai – giữa các con của tiên vương Chey Chêtthâ II và các con của nhiếp chính vương Utey làm mất đi ít nhiều tính ổn định chính trị trong nội bộ vương triều Chân Lạp. Chỉ chưa đầy nửa thế kỷ (1628 – 1674), có đến 7 vua thay nhau trị vì trong đó có 4 vua bị giết, các vua còn lại đều chết một cách không bình thường.

Tuy nhiên, với đức độ và trí thông minh, thái hậu Ang Cuv v ượt lên trên mọi mâu thuẫn phe phái. Mak Phoeun và Po Dharma nhận định: “Dường như (…) bà hoàng Việt Nam Ang Cuv biết hòa hợp với hoàng gia Chân Lạp và có được một ảnh hưởng không thể chối cãi đối với các ông hoàng trẻ Khơ-me, cả các con của Chey Chêtthâ II lẫn các con của Utey”1. Bà “tiếp tục sống ở kinh đô Chân Lạp” và “không ngừng giữ một vai trò quan trọng”2 trong đời sống chính trị của Chân Lạp.

Năm 1628, hoàng thái tử Cau Bana Tu3 nối ngôi vua, có chú là Utey nhiếp chính. Tuy là con của bà thái hậu người Chân Lạp, quốc vương Tu rất kính trọng và yêu mến bà Ang Cuv, tôn bà lên tước vị cao quí Samtec Brah Dav Dhita4. Tước vị này cho phép bà được cấp 3 tỉnh làm thái ấp và có những quan lại riêng5. Chúa Sãi gửi sang Udong 2 quan chức và 500 quân sĩ người Việt để phục vụ và bảo vệ bà.

Sau khi Tu qua đời (1632), em là Cau Bana Nu lên thay. Lúc này, thời hạn 5 năm mượn đất để lập 2 trạm thuế quan đã hết. Thái hậu yêu cầu Nu gia hạn và Nu đã ngoan ngoãn nghe theo.

Năm 1640, Ang Nan (con của nhiếp chính v ương Utey) thay Nu làm vua, cưới công chúa Ang Na Ksatri (con gái của thái hậu Ang Cuv)6 và phong cho Ang Na Ksatri làm hoàng hậu.

Cau Bana Cand (con của Chey Chêtthâ II và bà ng ười Lào, sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Chân) cưới vợ người Mã Lai theo đạo Hồi, bỏ đạo Phật để theo đạo của vợ, lấy tên là Ibrahim. Năm 1642, Cand dựa vào một nhóm người Mã Lai và người Chiêm Thành theo đạo Hồi giết vua Ang Nan để cướp ngôi. Cand cho người giết Utey (chú ruột của Cand), nhiều người trong hoàng tộc (trong đó có 2 con trai của vua Ang Nan) và nhiều quan lại mà Cand cho là trung thành với vua. Nhiều người bị giết một cách dã man như “xuyên cọc vào hậu môn và lột da sống” (empaler et écorcher vifs)1.

1 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 294.
2 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 292.
3 3 Mỗi vua Chân Lạp có nhiều tên và hiệu khác nhau, phiên âm sang chữ La-tinh không giống nhau. Chúng tôi chọn tên dễ nhớ nhất.
4 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 293
5 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 294
6 Hoàng gia Chân Lạp cho phép anh chị em cùng cha khác mẹ, cùng mẹ khác cha, anh chị em họ… được lấy nhau. Xét về quan hệ gia tộc, Ang Na Ksatri và Ang Nan là chị em chú bác ruột

Việc Cand thay đổi tôn giáo đã khiến nhân dân Chân Lạp tức giận, những việc làm độc ác của ông ta càng làm cho họ căm ghét.

Ngày 25-1-1658, hai ng ười con của Utey là Ang Sur và Ang Tan (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Xô và Nặc Ông Tân) cầm đầu cuộc nổi dậy để lật đổ một ông vua không được lòng dân và cũng để báo thù cho cha và anh. Cuộc nổi dậy không thành công vì lực lượng của Cand còn mạnh. Ang Sur và Ang Tan bí mật đến gặp thái hậu Ang Cuv, nhờ bà xin chúa Nguyễn giúp đỡ. Bà đồng ý, viết thư cho chúa Hiền (Nguyễn Phúc Tần, cháu gọi bà bằng cô)2.

Đáp ứng yêu cầu của hai hoàng thân Chân Lạp, chúa Hiền “sai phó t ướng Trấn Biên [lúc đó là Phú Yên] là Tôn Thất Yến, cai đội là Xuân Thắng, tham mưu là Minh Lộc (…) đem 3.000 quân đến thành Hưng Phúc (bấy giờ gọi là Mỗi Xuy [tức Mô Xoài], nay thuộc huyện Phúc Chính [đúng ra là Phước Chánh], tỉnh Biên Hòa), đánh phá được, bắt Nặc Ông Chân đưa về [Quảng Bình]”3.

“Theo các tài liệu của Hà Lan, có rất ít kháng cự từ phía quân Chân Lạp, điều đó khiến cho đội quân can thiệp của chúa Nguyễn đạt được một chiến thắng trọn vẹn trong một thời gian tương đối ngắn.

Linh mục J. Tissanier còn viết rằng: [quân Chân Lạp] chẳng kháng cự gì cả. Trong cuốn Relation du voyage du P. Joseph Tissanier de la Compagnie de Jésus depuis la France jusqu’au Royaume du Tunquin [xuất bản ở Paris năm 1663], ông viết rằng chúa Đàng Trong cử sang Chân Lạp một viên tướng với vài trung đoàn bộ binh và vài tàu chiến nhỏ, họ đã không gặp một sự kháng cự nào, họ đi vào một vương quốc đã mở sẵn cửa cho họ”4.

Điều đó cho thấy cả dân lẫn quân Chân Lạp đều không ủng hộ Cand và việc can thiệp của chúa Nguyễn là hợp với lòng người Chân Lạp.

Với sức mạnh quân sự v ượt trội của mình, Đàng Trong có thể chiếm đóng Chân Lạp lâu dài, thậm chí có thể sáp nhập Chân Lạp vào lãnh thổ của mình; Cand có thể chịu một số phận tương tự như các vua Chân Lạp trước kia khi rơi vào tay quân Xiêm. Nhưng không, mọi việc diễn ra theo một chiều hướng hoàn toàn khác. Chúa Hiền chỉ yêu cầu Cand hàng năm triều cống để tỏ ý thần phục Đàng Trong, đồng thời để cho di dân Đàng Trong đến làm ăn trên vùng đất còn hoang vu ở phía đông nam Chân Lạp. Chỉ cần Cand chấp thuận hai điều kiện ấy, chúa Hiền đã ra lệnh chấm dứt cuộc hành quân, cho quân rút khỏi Chân Lạp, trả tự do cho Cand, “trả ngôi báu Chân Lạp lại cho Cand, cho quân lính hộ tống Cand trở về vương quốc của ông ta”1. Chẳng may, trên đường về Udong, Cand nhuốm bệnh và qua đời khi đến Bat Anhchien, một địa phương nằm ven sông Vàm Cỏ Tây vào năm 1659.

1 A. Dauphin-Meunier, Histoire du Cambodge, sđd, tr. 74.
2 A. Dauphin-Meunier, Histoire du Cambodge, sđd, tr. 74.
3 Nguyên nhân việc chúa Hiền can thiệp quân sự ở Chân Lạp được trình bày như trên, nhưng các sử quan của Quốc sử quán nhà Nguyễn lại viết: “Tháng chín [năm Mậu Tuất 1658], vua nước Chân Lạp (…) là Nặc Ông Chân xâm lấn biên thùy” (Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 98). Viết như vậy là không chính xác vì vào thời điểm ấy, Đàng Trong và Chân Lạp không có biên giới chung vì còn có Chiêm Thành nằm giữa.
4 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 309

Ang Sur, ng ười cầm đầu cuộc nổi dậy, lên ngôi, “chấp nhận thần phục triều đình Phú Xuân”2. Năm 1664, Ang Sur phong em là Ang Tan làm phó vương (ubhayoraj). “Trong suốt thời gian trị vì của anh mình, Ang Tan nếu không phải là người bảo vệ thì cũng là người ủng hộ di dân Việt Nam sống ở Chân Lạp”3.

Được sự che chở của thái hậu Ang Cuv, người Đàng Trong đến khai phá vùng đất hoang của Chân Lạp ngày càng đông.

Nh ưng nội bộ hoàng gia Chân Lạp lại rơi vào tình hình cực kỳ rối ren. Năm 1672, Sri Jayajetth (cháu, đồng thời là rể của vua Ang Sur) giết vua để cướp ngôi. Phó vương Ang Tan chạy sang dinh Thái Khang (nay là tỉnh Khánh Hòa) cầu cứu chúa Hiền một lần nữa.
Chúa Hiền chuẩn bị đưa quân sang trừng phạt Sri Jayajetth thì kẻ cướp ngôi này đã bị công chúa Dav Ksatri (vợ của Ang Tan) giết (hay sai người giết) vào tháng 4 hay tháng 5-1673.
Ang Ji (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Đài, con của vua Ang Sur) lên ngôi. Ang Ji lại sai người giết Dav Ksatri. Ang Nan (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Nộn, con nuôi của Ang Tan và Dav Ksatri) chạy sang dinh Thái Khang báo tin dữ. “Dinh thần đem việc báo lên. Chúa [Hiền] nói rằng: Nặc [Ông] Nộn là phiên thần, có việc nguy cấp, không thể không cứu” rồi “sai [Nguyễn] Dương Lâm làm thống binh, tướng thần lại thủ hợp là Nguyễn Diên Phái làm tham mưu, Văn Sùng (…) làm thị chiến, đem quân đi đánh”4.
Trong lúc thế trận còn giằng co thì cả Ang Tan lẫn Ang Ji đều chết. Cuộc nội chiến tiếp tục giữa Ang Nan và Ang Sur (sử Việt Nam gọi là Nặc Ông Thu, em của Ang Ji). Đại Nam thực lục tiền biên chép: “Nặc [Ông] Thu đến quân môn xin hàng. Tin thắng trận báo về, triều đình bàn rằng: Nặc [Ông] Thu là dòng đích [con của vua Ang Sur] thì phong làm vua chính, đóng ở thành Long úc [Udong]; Nặc [Ông] Nộn [là dòng thứ, con nuôi của phó vương Ang Tan] làm vua thứ nhì, đóng ở thành Sài Gòn, cùng coi việc nước, hàng năm triều cống. Thế là nước Chân Lạp yên”5. Giải pháp này cho thấy chúa Nguyễn không muốn can thiệp sâu vào chuyện nội bộ của Chân Lạp mà chỉ muốn tạo điều kiện thuận lợi cho di dân Đàng Trong tới Chân Lạp làm ăn.

1 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 305
2 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 230
3 Mak Phoeun và Po Dharma, tlđd, tr. 232.
4 Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 122.
5 Đại Nam thực lục tiền biên, sđd, tập I, tr. 122.

Nếu thái hậu Ang Cuv giữ một vai trò quan trọng trong cuộc can thiệp lần thứ nhất của Đàng Trong (1658 – 1659) thì đến cuộc can thiệp lần này, các bộ sử không nhắc đến bà. Có lẽ lúc này bà đã ngoài 70 tuổi nên không còn tham gia vào đời sống chính trị nữa, cũng có thể bà đã qua đời.

Dù sao đi nữa, những việc bà làm từ năm 1620 đã mang lại kết quả khả quan: vào cuối thế kỷ XVII, có hơn 4 vạn hộ di dân Đàng Trong (dân dư tứ vạn hộ) sống rải rác trên địa bàn “rộng nghìn dặm” ở vùng đông nam Chân Lạp1. Người Việt Nam trở thành thành phần dân cư đa số. Họ cần cù lao động, đổ mồ hôi, đôi khi đổ cả máu nữa để biến mảnh đất hoang sơ này thành một vùng trù phú. Họ lập nên làng xóm, bầu người đại diện để quản lý các vấn đề chung của cộng đồng, dựng phố chợ để trao đổi hàng hóa. Theo nhà sử học Philippe Devillers, khi người Việt Nam tới, một bộ phận người Chân Lạp ở lại chung sống một cách hòa hợp với người Việt Nam, những người khác đi ở nơi khác2, vì lúc đó đất rộng người thưa nên không có chuyện tranh giành.

Năm 1698, chúa Minh (Nguyễn Phúc Chu) cử thống suất Nguyễn Hữu Kính (còn gọi là Cảnh) vào nam, lập phủ Gia Định trên phần đất đã được người Việt Nam khai phá, bao gồm huyện Phước Long (có dinh Trấn Biên) và huyện Tân Bình (có dinh Phiên Trấn). Đến đây, giai đoạn lưu dân tự phát và tự quản kết thúc. Từ đây, vùng đất này chính thức nằm trong lãnh thổ Việt Nam, có hệ thống chính quyền các cấp (phủ, huyện, tổng, xã) dưới quyền các quan chức (lưu thủ, cai bạ, ký lục…) do triều đình Huế bổ nhiệm. Quá trình “di dân khẩn hoang trước, Nhà nước lập chính quyền sau” diễn ra một cách hòa bình, chứ không phải như một nhà nghiên cứu Campuchia ở Pháp đã viết một cách ác ý: “Chúa [Nguyễn] ở Huế ra lệnh dùng vũ lực chiếm các tỉnh Sài Gòn, Bà Rịa và Đồng Nai của Chân Lạp”3.

Tất cả những gì chúng ta biết đ ược về bà Ang Cuv là nhờ biên niên sử hoàng gia Chân Lạp cũng như các công trình nghiên cứu của các nhà sử học nước ngoài. Vì một lý do nào đó, các sử quan nhà Nguyễn hoàn toàn không nhắc đến cuộc hôn nhân Việt – Chân Lạp năm 1620 (cũng như các cuộc hôn nhân Việt – Nhật Bản và Việt – Chiêm Thành diễn ra trong cùng thời kỳ ấy).

Vì không thấy Quốc sử quán nhà Nguyễn nói tới nên năm 1992, một nhà nghiên cứu ở Thành phố Hồ Chí Minh đưa ra giả thuyết “cho rằng hoàng hậu Somdach chỉ là một cô gái rất đẹp, con một lưu dân Việt Nam đã sống ở đồng bằng sông Cửu Long hay kinh đô Oudong của Chân Lạp. Người Việt Nam nào khi xa quê hương mà chẳng nhận mình là con ông cháu cha? Huống chi một hoàng hậu xinh đẹp lại không nhận mình là con dân của vua chúa Việt Nam được sao? Đâu có quá đáng (…). Cho nên không phải vì muốn tiểu thuyết hóa, mà chính vì sự thật, chúng tôi ngả về giả thuyết bà chỉ là thôn nữ lưu dân, hơn giả thuyết con đẻ của chúa Nguyễn”1.

1 Trịnh Hoài Đức, Gia Định thành thông chí, bản dịch của NXB Giáo dục, Hà Nội, 1998, tr. 77. Nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu phỏng tính: nếu mỗi hộ trung bình gồm 5 nhân khẩu thì dân số phủ Gia Định lúc đó khoảng 20 vạn người (Địa chí văn hóa Thành phố Hồ Chí Minh, sđd, tập I, tr. 157).

2 Philippe Devillers, sđd, tr. 22.
3 Mak Phoeun, “La frontière entre le Cambodge et le Vietnam du XVIIè siècle à l’instauration du protectorat franais, présentée à travers les chroniques royales khmères”, Les frontières du Vietnam (nhiều tác giả), NXB L’Harmattan, Paris, 1989, tr. 138.

Chúng tôi thấy giả thuyết này không hợp tình hợp lý. Cuộc hôn nhân năm 1620 nhằm những mục đích chính trị quan trọng: triều đình Udong muốn dựa vào lực lượng Đàng Trong để đối phó với mối đe dọa của Xiêm, trong khi triều đình Huế muốn đẩy mạnh bang giao với Chân Lạp để phát triển ảnh hưởng xuống phía nam. Chúa Sãi đã gả một con gái của mình cho một thương nhân Nhật Bản, thì hà cớ gì ông lại đánh tráo một cô “thôn nữ lưu dân” thành một công nữ để đáp lời cầu hôn chính thức của một quốc vương Chân Lạp? Việc tráo hôn là không cần thiết, lại nguy hiểm vì nếu bị phát hiện sẽ ảnh hưởng không tốt đến tình hữu nghị giữa hai nước.

ở thế kỷ XIII, cuộc hôn nhân Huyền Trân – Chế Mân đã đưa hai châu Ô và Rí vào bản đồ Đại Việt. Bà công chúa Đại Việt được đời sau nhớ ơn. Tên của bà được đặt cho đường phố. Mới đây nhân dân Huế đã lập một đền thờ tráng lệ để tôn vinh bà.

Hơn hai thế kỷ sau, cuộc hôn nhân của một công nữ họ Nguyễn với Chey Chêtthâ II tạo điều kiện cho người Đàng Trong vào làm ăn ở Chân Lạp, dẫn đến sự thành lập phủ Gia Định vào cuối thế kỷ XVII. Bất công thay sử quán nhà Nguyễn không hề nhắc tới “người phụ nữ đã đem về cho người Việt một vùng đất lớn”2 như nhận định của tiến sĩ Li Tana, khiến ngày nay hậu thế không biết bà là ai?

Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, chúa Sãi có bốn con gái. Hai công nữ thứ nhất và thứ tư là Ngọc Liên (vợ của phó tướng Nguyễn Phúc Vĩnh, tức Nguyễn Hữu Vĩnh, trấn thủ dinh Trấn Biên) và Ngọc Đĩnh (vợ của phó tướng Nguyễn Phúc Kiều, tức Nguyễn Cửu Kiều, trấn thủ dinh Quảng Bình). Đối với hai công nữ thứ hai và thứ ba là Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, Đại Nam liệt truyện tiền biên ghi “khuyết truyện” (không có tiểu sử)3.

Như vậy, trong hai công nữ Ngọc Vạn và Ngọc Khoa, ai là hoàng hậu Xứ Chùa Tháp, ai là phu nhân của thương gia Nhật Bản?4.

Tr ước đây, khá nhiều người cho rằng hoàng hậu Ang Cuv chính là công nữ Ngọc Vạn. Nhóm biên soạn Nguyễn Phúc tộc thế phả (NXB Thuận Hóa, Huế, 1995) thừa nhận như vậy. Từ điển bách khoa Việt Nam (NXB Từ điển bách khoa, Hà Nội, 2003, tập III, tr. 125) cũng viết như vậy. Gần đây một số người lại cho rằng vợ của thương gia Araki Soutarou mới là công nữ Ngọc Vạn1.

1 Nguyễn Đình Đầu, Chế độ công điền công thổ trong lịch sử khẩn hoang lập ấp ở Nam Kỳ Lục tỉnh, Hội Sử học Việt Nam xuất bản, Hà Nội, 1992, tr. 33.
2 Li Tana, sđd, tr. 173.
3 Đại Nam liệt truyện tiền biên, bản dịch của Viện Sử học, NXB Thuận Hóa, Huế, 1993, tr. 67
4 ở đây, chúng tôi loại trừ trường hợp bà hoàng hậu Chiêm Thành. Theo truyền thuyết do hai tác giả Dohamide và Dorohiêm kể trong Dân tộc Chàm lược sử (Hiệp hội Chàm Hồi giáo xuất bản, Sài Gòn, 1965, tr. 149-150), chúa Nguyễn không chính thức gả con gái cho vua Chiêm Thành Po Rome. Gerald C. Hickey cho người phụ nữ đó là “một phụ nữ thuộc triều đình họ Nguyễn” (Sons of the Mountains, Yale University Press, New Haven và London, 1982, tr. 89) chứ không khẳng định là con gái của chúa Nguyễn. Trong một chuyến đi nghiên cứu ở vùng Bình Thuận, Ninh Thuận và Tây Nguyên, giáo sư Nghiêm Thẩm được người dân cho biết tên người phụ nữ ấy là Ngọc Linh (Thái Văn Kiểm, sđd, tr. 51).

Tất cả chỉ dựa trên sự phỏng đoán chứ không căn cứ vào một tài liệu thành văn nào, nên độ tin cậy chưa cao.

Để nhớ ơn ng ười phụ nữ đã đóng góp lớn vào công cuộc mở đất phương Nam, thiết nghĩ các nhà nghiên cứu lịch sử vẫn còn trách nhiệm tìm lời giải đáp cho câu hỏi nêu trên.

1 Vũ Minh Giang, “Người Nhật, phố Nhật và di tích Nhật Bản ở Hội An”, Đô thị cổ Hội An (nhiều tác giả), NXB Khoa học xã hội, Hà Nội, 1991, tr. 211; Trịnh Tiến Thuận, Quan hệ Nhật Bản – Việt Nam thế kỷ XVI – XVII (luận án tiến sĩ sử học), Trường Đại học sư phạm Hà Nội, 2002, tr. 113.

04/06/2010 at 3:34 PM Leave a comment

Tiếp cận những yếu tố giúp Nguyễn Ánh thành công trong việc xây dựng vương triều Nguyễn

Th.s. Nguyễn Hữu Hiếu*1

Trong lịch sử nước ta có hai triều đại phong kiến trị vì đất nước lâu dài, đó là triều đại nhà Hậu Lê và nhà Nguyễn .

Triều đại nhà Hậu Lê trải qua hai thời kỳ: thời kỳ Lê sơ (1428-1592), dài 99 năm; thời kỳ Lê trung hưng (1533-1788), dài 255; cộng cả hai thời kỳ là 354 năm. Triều đại nhà Nguyễn cũng trải qua hai thời kỳ: thời các chúa Nguyễn, dài 219 năm (1558-1777) và thời các vua nhà Nguyễn (1802-1945), dài 143 năm; cộng cả hai thời kỳ là 362 năm. Tuy nhiên trên thực tế, ngay từ lúc Nguyễn Huệ lên ngôi hoàng đế (1788) thì cũng là lúc Nguyễn ánh đã khôi phục toàn bộ vùng Gia Định đến lúc chánh thức lên ngôi hoàng đế (1802), dài 14 năm. Như vậy, nhà Nguyễn là triều đại phong kiến dài nhứt trong lịch sử nước ta với 376 năm, dài hơn một số triều đại phong kiến lớn ở Trung Quốc ( nhà Minh 276 năm, nhà Thanh 267 năm).

Ng ười khai sáng triều đại các chúa Nguyễn là Nguyễn Hoàng và Nguyễn ánh là người xây dựng nên vương triều Nguyễn. Nguyễn Hoàng và Nguyễn ánh chẳng những là hai nhân vật có công lớn đối với dòng họ Nguyễn, mà còn mang lại cho lịch sử dân tộc Việt Nam những bước tiến dài đầy ấn tượng so với các triều đại trước. Nguyễn Hoàng đương đầu với họ Trịnh, mở mang phương Nam và hình thành nhà nước “Xứ Đàng Trong” không chật vật bằng Nguyễn ánh phải trải qua 25 năm (1777-1802) mới xây dựng được vương triều nhà Nguyễn quản lý toàn bộ đất nước.

Chúng ta thử tiếp cận với những yếu tố giúp Nguyễn ánh thành công trong quá trình đương đầu với Tây Sơn, để nhìn thấy những bước thăng trầm của Nguyễn ánh trong công cuộc xây dựng vương triều Nguyễn.

1. Yếu tố chủ quan:
– Phẩm chất riêng của con người Nguyễn ánh;

Chỉ tính đến thời điểm khôi phục được Gia Định (đầu năm 1789), trong khoảng

14 năm tranh đấu với Tây Sơn, bao nhiêu lần Nguyễn ánh bị đánh bật ra khỏi Nam bộ, binh tướng tan tác, phải trốn chui trốn nhủi, nhịn đói chịu khát, bản thân cũng nhiều lần thóat chết trong đường tơ kẻ tóc, phải lưu vong sang Xiêm ăn nhờ ở đậu gánh chịu nhiều nỗi nhục nhã…

Nh ưng Nguyễn ánh vẫn không vơi quyết tâm đánh trả Tây Sơn thu phục đất Gia Định, mảnh đất mà tổ tiên Nguyễn ánh dày công gầy dựng. Nguyễn ánh đã vượt qua biết bao nhiêu gian khó, bao nhiêu trở ngại để đạt được mục tiêu đã đề ra. Để ra ngoài thiên kiến chánh trị, động cơ phục thù của Nguyễn ánh, thì lòng kiên trì, quyết tâm cao độ đó thật đáng lưu ý.

* Hội Khoa học Lịch sử Đồng Tháp

Nh ưng vì kiên trì để đạt được mục tiêu, mà Nguyễn ánh đã dùng bất cứ thủ đoạn nào để đạt được; trong đó, tệ hại nhứt là việc rước mấy vạn quân Xiêm về giày xéo quê hương. Lịch sử nhiều nước cho thấy, trong đấu tranh nội bộ hay chống ngoại xâm, để thủ thắng các bên có lúc phải dựa vào ngoại viện. Nhưng hình thức ngoại viện mới là điều đáng nói. Tranh thủ ngoại giao, giúp đở võ khí phương tiện chiến tranh, can thiệp bằng binh lực…? Trong cuộc tranh chấp với Nguyễn ánh, Tây Sơn cũng tranh thủ ngoại giao với Xiêm để gây áp lực với Nguyễn ánh, đã mua võ khí của Bồ Đào Nha…

Sai lầm của Nguyễn ánh cũng như Lê Chiêu Thống sau này, vì muốn khôi phục quyền bính mà bất chấp thủ đoạn, rước ngoại bang về, là hành vi không thể tha thứ được.

Nh ưng bên cạnh cái sai lầm, trong thời gian cuộc nội chiến còn diễn ra trên đất Gia Định, Nguyễn ánh đã cho thực hiện nhiều biện pháp kinh tế, xã hội và hành chánh, mặc dù những họat động này nhằm mục tiêu củng cố sức người sức của để phục vụ chiến tranh chống Tây Sơn, nhưng đã gián tiếp làm cho tình hình kinh tế xã hội Gia Định không tồi tệ như ở Trung và Bắc Hà. Đó là điều mà Tây Sơn chưa hề làm được ở Gia Định. Và cũng chính những biện pháp này đã lôi kéo được giới điền chủ và một bộ phận lớn nông dân ngả về phía Nguyễn ánh.

– Phát động cuộc chiến phục thù lần sau cùng đúng thời cơ;

Rút kinh nghiệm trong những lần thảm bại tr ước đó, hể mỗi khi Nguyễn Huệ mang quân vào Gia Định với kỹ thuật hành quân thần tốc, bất ngờ và tập trung quân đánh vào một điểm quyết định, là chẳng những Nguyễn ánh bị đánh bật ra khỏi đất liền, mà còn bị truy nã ráo riết, phải ẩn núp hết quần đảo Côn Sơn, đến Phú Quốc…

Mâu thuẩn giữa nhãn quan chánh trị hạn hẹp của Nguyễn Nhạc với tầm nhìn xa trông rộng của thiên tài chánh trị-quân sự Nguyễn Huệ dẫn tới cuộc “nồi da xáo thịt “ở Quy Nhơn, chẳng những làm tiêu hao nhiều binh lực mà làm cho uy danh tốt đẹp, hình ảnh kiêu dũng của những người anh hùng nông dân áo vải từng bước bị xóay mòn trong tâm tưởng nhân dân và nhứt là từng lớp trí thức lúc bấy giờ, và còn tạo điều kiện cho Nguyễn ánh về nước tổ chức công cuộc phục thù trong hoàn cảnh mới.

Nắm chắc và triệt để khai thác yếu tố địa lợi và nhân hoà;

Cái ưu thế mà Nguyễn ánh có ở đất Gia Định là, ông là con cháu các chúa Nguyễn. Đối với phần lớn nhân dân Gia Định, trong thâm tâm họ ẩn chứa tình cảm sâu nặng với các chúa Nguyễn. Cho rằng có được cuộc sống sung túc, có của ăn của để là nhờ công lao của các chúa Nguyễn, nên đương nhiên là có bổn phận ủng hộ, giúp đỡ Nguyễn ánh khôi phục cơ đồ mà các chúa Nguyễn đã dày công gầy dựng trăm năm qua, theo suy nghĩ đơn giản “ơn đền oán trả”, “ăn trái nhớ kẻ trồng cây” mới hợp đạo nghĩa ở đời. Trạng huống tâm lý này tồn tại đến đầu thế kỷ XX đã được cụ Phan Bội Châu vận dụng đưa Cường Để làm hội chủ Duy Tân hội vận động Đông Du rất có hiệu quả. Cho nên chúng ta không gi khó hiểu khi thấy có nhiều điền chủ và cả nông dân Gia Định ủng hộ Nguyễn ánh.

Nguyễn ánh triệt để khai thác yếu tố này để vừa vận động, vừa o ép nhân dân góp của góp sức xây dựng lực lượng. Cho nên ta thấy có lúc lực lượng Nguyễn ánh bị Tây Sơn đánh gần như tan rã hoàn toàn, nhưng chỉ một thời gian ngắn sau đó lại hồi phục nhanh chóng. Đồng thời cũng phải thừa nhận rằng, Nguyễn ánh đã khôn khéo đưa ra hàng lọat chủ trương bồi dưỡng, khoan dung sức dân, để lôi kéo dân chúng về phía mình. Do đó, ngay cả trong lúc còn lưu vong, lợi dụng sự quản lý lỏng lẻo, yếu kém của Đông Định Vương Nguyễn Lữ, Nguyễn ánh cho người xây dựng cơ sở vẫn được nhiều người ủng hộ.

Một điều đáng l ưu ý là trong 13 năm nội chiến, có lúc Nguyễn ánh làm chủ đất Gia Định một thời gian khá dài, tới 4 năm 4 tháng; từ tháng 11 năm Đinh dậu (1777) đến tháng 3 năm Nhâm dần (1782). Trong thời gian này, Nguyễn ánh đã tổ chức và củng cố chánh quyền từ trung tâm Sài Gòn (trị sở của phủ Gia Định) xuống tận xã thôn. Phủ Gia Định gồm 4 dinh ( Trấn Biên, Phiên Trấn, Trường Đồn, Long Hồ) và một trấn (Hà Tiên), ở mỗi dinh và trấn, Nguyễn ánh đặt các chức quan: Lưu thủ, Cai bạ, Ký lục để trông coi việc cai trị. Lúc bấy giờ dân cư còn thưa thớt, nên dưới mỗi dinh và trấn chỉ có một huyện. Dưới huyện là các tổng; dưới tổng là các thôn hoặc xã. Nói một cách cụ thể hơn, trong thời gian này tiếp tục hoàn thiện một bước nữa công cuộc khai hoang của các chúa Nguyễn bị bỏ dở, có tác động tâm lý sâu sắc đối với nhân dân Gia Định trong cuộc nội chiến.

Đến cuối thể kỷ XVIII, đất Gia Định sau hơn một trăm năm khai phá, dù diện tích được đưa vào sản xuất nông nghiệp chưa phải là nhiều, nhưng đất đai mầu mỡ, nguồn lợi tự nhiên hết sức phong phú đã sớm làm xuất hiện nền kinh tế hàng hóa trên vùng đất mới này. Nơi đây là nguồn cung cấp vật lực, tài lực dồi dào cho ai làm chủ được nó. Nguyễn ánh triệt để khai thác yếu tố nhân tâm để qua đó sử dụng được kho tàng vật lực phong phú này.

Chiếm giữ Gia Định, Nguyễn ánh vừa làm chủ được nguồn lương thực, vừa phong toả được sự tiếp tế từ Gia Định cho Quy Nhơn.
– Thoát khỏi âm mưu Thiên chúa hóa chánh quyền:
Dù nhỏ tuổi rất nhiều và chịu ơn sâu nặng với Ba-đa-lộc, nhưng Nguyễn ánh vẫn kiên trì đấu tranh bảo vệ văn hóa truyền thống của dân tộc, chống lại âm mưu, thủ đoạn cải giáo của Ba-đa-lộc. Kể cả khi hoàng thái tử Cảnh (theo đạo Thiên chúa) qua đời, thà để chịu mang tiếng bỏ trưởng lập thứ, Nguyễn ánh vẫn phong cho hoàng tử Đảm (Minh Mạng sau này) làm thái tử, chớ không để ngôi thái tử rơi tay con của hoàng tử Cảnh (theo đạo Thiên chúa).

2. Yếu tố khách quan:
– Hoàn cảnh x∙ hội Gia Định:

Khi quân Tây Sơn vào Gia Định truy kích chú cháu Nguyễn Ph ước Thuần và Nguyễn Phước Dương (Nguyễn ánh mới 14 tuổi, cũng có mặt), thì tình hình kinh tế-xã hội ở đây lúc bấy giờ, tức sau trên dưới 200 năm nằm dưới sự khai thác và quản lý của các chúa Nguyễn, đã đạt đến đỉnh cao nhứt trong cả nước, do sớm hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hoá tiền tư bản; nó vừa là kết quả, vừa động lực hữu hiệu cho sự phát triển kinh tế-xã hội-văn hoá vùng. Trong vòng hai thế kỷ, những cư dân người Việt cùng các dân tộc khác, như Khmer, Hoa, Chăm…đã tạo nên một phức thể văn hoá nông nghiệp1 ở Nam bộ với những quan hệ giao lưu, trao đổi hàng hoá khá sớm. Có ý kiến cho rằng, đó là thời kỳ người Việt ở Đàng Trong tiến vào đồng bằng Nam bộ, văn hoá Việt Nam đã đạt tới trình độ phát triển cao hơn so với thời đại Lý-Trần và cả nhà Lê trước đây2.

Thế lực của Nguyễn ánh ở đây không phải là sức mạnh quân sự, mà chính là cấu trúc xã hội Gia Định, nó được hình thành trên cơ sở sự giàu mạnh của từng lớp điền chủ mới nặng ân tình với họ Nguyễn và thương nhân người Hoa. Mâu thuẩn giữa nông dân và địa chủ chưa đến độ gay gắt như ở miền Trung, xuất phát điểm của phong trào Tây Sơn. Nói là quản lý Gia Định, nhưng quan tướng Tây Sơn không nắm được các đối tượng này, không đủ năng lực phá vỡ một cấu trúc xã hội đã được hình thành hơn một trăm năm qua, trong một thời gian ngắn, để hình thành cơ cấu xã hội mới. Cấu trúc xã hội Gia Định vào cuối thế kỷ XVIII như đã trình bày ở trên, không giống như ở Bắc Hà hay vùng Thuận Quảng. Nó không còn một xã hội thuần nông tự cung tự cấp, mà đã phát triển với nền kinh tế hàng hóa-tiền tệ, dù không tái sản xuất.

Mỗi lần đại quân Tây sơn đánh vào chỉ tiêu diệt đ ược lực lương quân sự của Nguyễn ánh, tàn phá phần nào cơ sở vật chất (thu gom lúa gạo, đốt phá, tháo dở các công trình lớn ở cù lao Phố, Chợ Lớn, Mỹ Tho… lấy vật tư chở về Quy Nhơn), chớ chánh quyền Nguyễn Lữ chưa hề có động thái gì nhằm làm thay đổi cơ cấu xã hội Gia Định, cơ sở tồn tại và phục hưng của Nguyễn ánh. Tác giả “Phong trào Tây Sơn và anh hùng dân tộc Quang Trung”3 nhận xét rất chính xác, khi viết: ” Thực là nguy hiểm khi Nguyễn Nhạc cho rằng kẻ thù ở phía Nam chỉ là cá nhân Nguyến ánh và một số tướng tá, mà không thấy rằng mầm móng tai hoạ ấy là cả một từng lớp địa chủ đông đảo ở Gia Định là chỗ dựa của ánh.

“Thực ra mấy lần quân Tây Sơn kéo vào chỉ đánh quân lính của Nguyễn ánh và những tay chân trực tiếp, sau đó không hề đụng chạm đến tình hình kinh tế, xã hội ở Gia Định. Do vậy, hễ túng thế thì Nguyễn ánh bỏ chạy, nhưng tạm yên thì ông ta lại quay về Gia Định như về nhà của mình vậy”.

– Từ chỗ đánh giá sai lầm vai trò Nam bộ trong lịch sử dẫn đến việc quản lý Gia Định lỏng lẻo của chánh quyền Tây Sơn.
Có lẽ Nguyễn Nhạc và ngay cả Nguyễn Huệ xem Gia Định chỉ là vấn đề thuần túy quân sự, hay chỉ là một kho lương thực.

1 Nguyễn Công Bình, Một số đặc điểm xuất phát của Miền Nam đi lên chủ nghĩa xã hội. Viện KHXH tại TP. HCM. Miền Nam trong sự nghiệp đổi mới của cả nước. Nxb KHXH, Hà Nội, 1990, tr. 23.
2 Cao Tự Thanh, Nho giáo ở Gia Định, Nxb.TP. HCM, 1996, tr.235.
3 Nguyễn Phan Quang: Phong trào Tây Sơn và anh hùng dân tộc Nguyến Huệ, Nxb TP. HCM, 2006, tr.60-61

Nếu không thì tại sao bốn lần đánh thắng Nguyễn ánh, Nguyễn Huệ đều vội vàng mang ngay đại quân trở về Quy Nhơn, không ở lại hoặc cử người có năng lực ở lại Gia Định tổ chức lại sản xuất và xây dựng bộ máy chánh quyền?

Sài Gòn là trung tâm quyền lực ở Gia Định, ai chiếm đ ược nơi đây, xem như làm chủ cả Nam bộ, và trong 13 năm nội chiến Tây Sơn-Nguyễn ánh (1777-1789), hai chánh quyền Tây Sơn và Nguyễn ánh tồn tại đan xen nhau. Tây Sơn chỉ thật sự nắm quyền ở Gia Định gần 7 năm; thời gian còn lại là 5 năm do Nguyễn ánh cai quản và tình trạng không có chánh quyền là trên một năm.

Trong thời gian 7 năm làm chủ đất Gia Định, với 4 lần gián đọan, giai đoạn cầm quyền dài nhứt là 5 năm 6 tháng và ngắn là từ 3 đến 5 tháng. Với điều kiện thời gian vừa ngắn vưà gián đoạn như thế thì chánh quyền Tây Sơn không thể nào tổ chức hành chánh cai trị bền vững để thực thi chánh sách xã hội-kinh tế được. Đó là chưa nói tới tư chất của người lãnh đạo. Trong ba anh em Tây Sơn, Nguyễn Lữ là người bình thường, lại có thể là một thầy tu (trong một số thư từ của giáo sĩ phương Tây, thường goị Nguyễn Nhạc là “Chúa Tây Sơn”, Nguyễn Lữ là “Thầy Tư Lữ” còn Nguyễn Huệ là “Đức Ông Tám”), nên khi được Nguyễn Nhạc phong làm Tiết chế (1778), rồi Đông Định vương (1786); Nguyễn Lữ là người thường “lấy việc sửa mình, thương người làm gốc, còn giàu sang, thua được là chuyện ngoài thân” 1 .

Tr ước khi Nguyễn Lữ chánh thức được phong làm Đông Định vương, nắm quyền cai trị Gia Định, vùng này lần lượt được cai quản bởi Tổng đốc Chu (Châu) trong hai tháng ( từ tháng 10/1777), hàng tướng Đỗ Nhàn Trập (em Đỗ Thanh Nhân) trong ba tháng (từ tháng 5/1782) . Sau khi đánh tan quân Xiêm, Gia Định do phò mã Trương Văn Đa (từ tháng 8/1783) cai quản hơn một năm. Từ tháng 5/1785 Đô úy Đặng Văn Trấn thay thế Trương Văn Đa, cai quản Gia Định lâu hơn, có chỉnh trang lại Sài Gòn, đào kinh Tranh Giang (xuyên qua Đồng Tháp Mười), như đã trình bày ở trên. Khi cuộc tranh giành quyền lực giữa anh em Tây Sơn nổ ra, theo lệnh Nguyễn Nhạc, Đặng Văn Trấn trao Gia Định cho Tham đốc Trần Tú vào tháng 5/1787, về Quy Nhơn. Sau đó, Đông định vương Nguyễn Lữ có Thái phó Phạm Văn Tham làm phụ chính vào cai trị Gia Định. Đến tháng 9, rơi vào kế ly gián của Nguyễn ánh, Nguyễn Lữ bỏ Gia Định chạy về Quy Nhơn, rồi bịnh chết; và đến tháng 9 năm sau 1788, Nguyễn ánh chiếm được Sài Gòn, chấm dứt chánh quyền Tây Sơn trên đất Gia Định.

Những giai đoạn làm chủ Gia Định, 3 tháng, 5 tháng, 8 tháng, chắc Tây Sơn chưa có đủ thời gian củng cố chánh quyền ở trung tâm ở Sài Gòn, thì làm sao có thời gian thay đổi hay hủy bỏ chánh quyền cơ sở của Nguyễn ánh. Để ổn định xã hội trước mắt Tây Sơn không còn cách nào khác hơn là tiếp tục phải sử dụng chánh quyền cơ sở cũ của Nguyễn ánh.

1 Qúach Tấn-Qúach Giao: Sđd, tr.131.

Nh ư thế, phải chăng chánh quyền Tây Sơn chỉ quản lý Sài Gòn và các thị tứ đông dân, còn vùng nông thôn hẻo lánh, rừng rậm thì thả nổi mặc cho đám tàn binh Nguyễn ánh mai phục chờ cơ hội.

Còn trong một thời gian dài 5 năm 6 tháng từ tháng 2 năm Quý Mão đến tháng 8 năm Mậu thân (1788), ngoài một số họat động chỉnh trang Sài Gòn, chúng ta chưa tìm thấy tư liệu nào ghi chép về hoạt động kinh tế-xã hội của Tây Sơn trong thời gian này, ngoài việc Đô úy Đặng Văn Trấn đào con kinh mới Tranh Giang (Rạch Chanh) nối liền sông Vàm Cỏ Tây với sông Bà Bèo xuyên ngang đất Ba Giồng nhằm mục đích quân sự hơn là kinh tế. Tác giả cuốn “Nhà Tây Sơn” có lý khi nhận xét: “Quân ta đánh vào quân nhà Nguyễn, nhân dân miền Nam coi là cuộc tranh giành địa vị với nhau, chớ không phải để giải phóng họ. Bởi vậy, hễ bên nào mạnh, được thì họ theo, theo trong nhất thời. Rồi ai được, ai thua, họ bàng quan tọa thị. Do đó, quân ta cứ lấy được Gia Định, rồi lại mất… Muốn giữ đất được bền lâu, thì phải làm thế nào chiếm cho được lòng dân, nhất là lòng kẻ sĩ 1.”

Sự quản lý Gia Định yếu kém của Tây Sơn còn gián tiếp thể hiện tâm lý chủ quan, coi thường kẻ thù, đánh giá quá thấp thế lực và cá nhân con người của Nguyễn ánh cùng vai trò của vùng đất mới Gia Định trong tiến trình lịch sử dân tộc của Tây Sơn.

Động thái này đ ưa Tây Sơn đến một hâụ quả không lường được mà ngay cả Nguyễn Huệ đến lúc sắp mất mới nhận ra, thì đã muộn. Đại thắng quân Thanh ít lâu, nghe tin Nguyễn ánh thu phục lại Bình Thuận, Bình Khang, Diên Khánh, thanh thế lừng lẫy, Nguyễn Huệ càng buồn thêm, bịnh ngày càng nặng thêm, cho goị Trần Quang Diêụ và các quan thân tín khác dặn rằng: ” Ta mở mang cõi đất, cả cõi Nam, nay bịnh ắt không khỏi, Thái tử tư chất hơi cao, nhưng tuổi hãy còn nhỏ, ngoài có thù nước ở Gia Định. Thái Đức (tức Nguyễn Nhạc) thì tuổi già, nhàn rổi vui chơi cầu an, không mưu tính đến việc đời sau. Khi ta chết rồi, nên trong một tháng, làm laọ thảo để chôn táng thôi. Bọn ngươi nên cùng nhau giúp Thái tử sớm thiên đến Vĩnh đô (Nghệ An), để thống chế thiên hạ. Không thế thì quân ở Gia Định ra, bọn ngươi chết không có đất mà chôn đấy 2”.

Nói chung việc quản lý Gia Định yếu kém là một thất sách lớn về chánh trị của Tây Sơn. Thất sách đó tạo điều kiện cho Nguyễn ánh trở về lập căn cứ ở Nước Xoáy làm bàn đạp chiếm Gia Định.

Nguyễn Huệ bận đối phó với việc quân Thanh xâm lược Việt Nam, Nguyễn Nhạc bỏ rơi Gia Định.

Lúc Nguyễn ánh trở về chiếm được phân nửa Gia Định và lấy Nước Xoáy-Tân Long (Sa Đéc) làm căn cứ ( tháng 10/ 1788) cũng là lúc nhà Mãn Thanh chuẩn bị xua 50 vạn quân tràn qua biên giới Vịêt Trung xâm lược Bắc Hà. Nguyễn Huệ đang ở Phú Xuân phải tập trung tăng cường binh lực, lên kế hoạch hành quân đối phó quân xâm lược nhà Thanh, một vấn đề trọng đại và cấp bách, nên Nguyễn ánh có cơ hội đánh chiếm Gia Định.

1 Quách Tấn – Quách Giao: Nhà Tây Sơn, TTVH Nghiã Bình, 1988, tr. 2 Quốc Sử qúan :Đại Nam liệt truyên. Tập 2, Nxb Thuận Hóa-Huế 1997,tr.560.

Khi Nguyễn ánh về khôi phục Gia Định, Nguyễn Nhạc kề một bên, chẳng những không chi viện cho Nguyễn Lữ mà còn điều Đặng Văn Trấn về Quy Nhơn, để một mình Phạm Văn Tham chiến đấu đơn độc, cuối cùng phải đầu hàng Nguyễn ánh.

Tình trạng cát cứ của nhà nước Tây Sơn.

Đây là nguyên nhân bao trùm, khiến cho nhà Tây Sơn chẳng thất bại tr ước Nguyễn ánh mà còn để cho Nguyễn ánh thay thế vai trò lịch sử thống nhứt đất nước của mình.

Quá trình phong kiến hóa nhà n ước Tây Sơn bắt đầu diễn ra ngay vào lúc Tây Sơn sắp thực hiện xong sứ mạng thống nhứt đất nước. Ngay sau khi vừa tiêu diệt được thế lực phong kiến của họ Trịnh ở Đàng Ngoài (1786), công cuộc thống nhứt đất nước chỉ còn tiêu diệt thế lực của Nguyễn ánh ở Gia Định nữa là xong; lực lượng Tây Sơn lại bắt đầu phân hóa theo xu hướng phong kiến cát cứ, phân chia đất đai và quyền lực, điều mà họ đấu tranh suốt hơn mười năm mới xóa bỏ được. Rồi tiếp liền theo đó là cuộc tranh chấp quân sự đáng tiếc xảy ra giữa anh em Nguyễn Nhạc, Nguyễn Huệ làm tổn hao oan uổng biết bao nhiêu sinh mạng. Biến cố này dẫn đến việc hàng loạt phú hào ở Gia Định nổi lên theo Nguyễn ánh, có cả một số tướng tài của Tây Sơn, như Nguyễn Văn Trương (của Nguyễn Nhạc), Nguyễn Đằng Vân, Nguyễn Văn Duệ (của Nguyễn Huệ) đầu hàng Nguyễn ánh và Nguyễn Hữu Chỉnh, Vũ Văn Nhậm… ra mặt phản bội Nguyễn Huệ, có cả một số nhân sĩ Bắc Hà trốn vào Gia Định theo Nguyễn ánh. Tây Sơn lúc bấy giờ là Nguyễn Nhạc ở miền Trung, Nguyễn Huệ ở miền Bắc chỉ là một thế lực phong kiến như Nguyễn ánh ở miền Nam.

Chính vì tình trạng phân quyền cát cứ này làm cho Quang Trung không tiến hành trấn áp Nguyễn ánh ngay sau khi chiến thắng 50 vạn quân Thanh, vì e ngại lực lượng của Nguyễn Nhạc ở Quy Nhơn có thể đánh úp sau lưng. Quy Nhơn vô tình biến thành rào chắn cho Gia Định giúp Nguyễn ánh có điều kiện khôi phục kinh tế và phát triển binh lực.

Cũng có ý kiến cho rằng chính cái chết của Quang Trung mới là nguyên nhân, điều kiện chủ yếu giúp Nguyễn ánh đi đến thắng lợi cuối cùng. Sự qua đời của Quang Trung là một hiện tượng ngẫu nhiên. Dù cho vua Quang Trung qua đời đột ngột, nhưng nếu nhà nước Tây Sơn là một nhà nước phong kiến thống nhứt, không có sự phân chia quyền lực, chắc chắn Tây Sơn theo kế hoạch do Quang Trung vạch sẵn cũng thừa sức đánh đuổi Nguyễn ánh ra khỏi Gia Định, làm sao Nguyễn ánh có cơ hội đánh chiếm cả nước! Đằng này sau khi Quang Trung qua đời, con vua Quang Trung, Cảnh Thịnh không lo tiêu diệt Nguyễn ánh mà lại tập trung binh lực bức hiếp Thái Đức hoàng đế Nguyễn Nhạc, rồi giải tán triều đình trung ương ở Qui Nhơn, chỉ cho duy trì “tiểu triều” Nguyễn Bảo, ăn lộc huyện Phù Ly.

Nh ư vậy, dù cái chết của Quang Trung là một nguyên nhân quan trọng tạo thắng lợi của Nguyễn ánh, nhưng trùm lên trên đó vẫn chính là tình trạng cát cứ của nhà nước Tây Sơn, là tình trạng thoái hóa biến chất của phong trào Tây Sơn; phong trào Tây Sơn không còn là phong trào cách mạng mà chỉ là phong trào nông dân đơn thuần mới là nguyên nhân của mọi nguyên nhân. Đầu mối của vấn đề là ở đây, mà trước hết là sự chia rẽ giữa Nguyễn Nhạc và Nguyễn Huệ lên đến cao điểm phải giải quyết bằng quân sự, tạo điều kiện tốt cho Nguyễn ánh từ Xiêm về lập căn cứ ở Long Hưng-Sa Đéc… Nếu Long Hưng là căn cứ giúp Nguyễn ánh thu phục được đất Gia Định, thì Gia Định trở thành bàn đạp giúp Nguyễn ánh thu phục cả giang sơn Việt Nam về một mối, cơ sở khai sáng vương triều Nguyễn.

03/06/2010 at 11:27 AM Leave a comment

MỘT SỐ DẤU ẤN VÀ GIAI THOẠI VỀ NGUYỄN ÁNH TRÊN VÙNG ĐẤT PHƯƠNG NAM

Nguyễn Hữu Hiệp*

Khi chúa Nguyễn ánh còn bôn ba gian nan ở miền Nam lẩn tránh quân Tây Sơn, có thể nói địa phương nào có dấu chân ông đi qua, kể cả đường sông, đường biển, hầu như nơi đó đều có để lại những dấu ấn tình cảm vô cùng sâu đậm. Từ phường ăn mày, người bần nông cùng khổ, đến thày tu hoặc những tay cự phú gạo tiền nứt đố đổ vách… ai ai cũng thể hiện tinh thần hào hiệp với chúa. Cũng có không ít anh hùng hào kiệt sẵn trong tay hàng trăm, hàng ngàn quân gia, đầy quyền thế khi nghe biết chúa sa cơ, khổ sở đều dẫn quân theo về, kể cả lãnh tụ “người dân tộc” cũng tự nguyện đến xin phò tá, rất mực trung thành. Chung nhất, đó chính là sự cảm thông, là tấm lòng, là thói nết “Kiến nghĩa bất vi vô dõng giả” của người lưu dân trên vùng đất phương Nam.

Nhờ vào ý chí, sức chịu đựng, sự kiên trì cộng cùng các yếu tố “thiên thời, địa lợi, nhân hòa” nên cuối cùng chúa Nguyễn ánh – Gia Long đã khôi phục ngai vàng, giang san thu về một mối.

Dưới đây xin ghi lại một số dấu ấn trên vùng đất phương Nam dưới thời nhà Nguyễn, mà chủ yếu là thời Nguyễn ánh tránh Tây Sơn.

1. Với loài vật.
Cá sấu, rắn biển cản thuyền ngự chúa.

Quốc triều chánh biên toát yếu chép, mùa đông năm Bính Thân (1764), “Ngài [Nguyễn ánh] muốn nhơn ban đêm qua biển để tránh giặc, có cá sấu đón ngang trước thuyền ba lần, rồi Ngài không đi; sáng ngày dò biết đêm ấy có thuyền giặc đón đàng trước”.

Cũng nh ư thế đó, “Tháng 4 năm Tân Sửu (1781), Ngài ngự vào Hà Tiên, đi thuyền nhỏ ra biển, đêm tối quá, không biết đường đi, tựa hồ có vật chi đội dưới đáy thuyền, mờ sáng mới biết là một bầy rắn. Các người tùng thần ai cũng sợ hãi. Ngài giục đi cho mau, một chặp bầy rắn đi hết, rồi thuyền ngự đi ra cù lao Phú Quốc”.

Cá ong cứu Nguyễn ánh, Nguyễn ánh nhớ ơn cứu tử, phong chức. Trong một cuộc giao chiến với Tây Sơn tại Bình Thuận (Phan Thiết), Nguyễn ánh thua phải thu góp tàn quân xuống thuyền mở đường máu chạy về phía Nam. Trong lúc quân Tây Sơn truy đuổi rất rát ở phía sau thì trước mặt mây trời đen nghịt, đến sông Soi Rạp (Gò Công) thì giông bão nổi lên dữ dội. Tình thế thập phần nguy kịch, Nguyễn ánh ngửa mặt lên trời mà khấn: “Nếu lòng trời còn tựa nhà Nguyễn, xin phò hộ Nguyễn ánh này thoát qua cơn thập tử nhứt sinh!”. Cơn sóng lại nổi lên dữ dội thêm, các thuyền Tây Sơn rượt theo gần kịp thì bị gió thổi gãy cột buồm, văng bánh lái, thuyền xoay vòng rồi lật úp. Quân Tây Sơn đang thắng hóa bại, Nguyễn ánh sắp lâm nguy thì được vững an, từ dưới nước nổi lên một cặp cá ong kẹp hai bên mạn thuyền đưa vào bờ, nhằm địa phận Vàm Làng, tổng Kiểng Phước, Gò Công.
Sau khi lên ngôi, Gia Long không quên công cứu giá, bèn phong cho cá ong tước Nam Hải đại tướng quân, đồng thời gửi cho mỗi làng duyên hải gần nơi chiến thuyền ông đã cập bến ngày trước một bằng sắc phong thần, với lệnh xây cất một đình thần để thờ phụng cá ong, mỗi năm đến mùa lo cúng tế.
Một loài cá nhỏ cứu chúa Nguyễn ánh thoát nạn: Cá Linh
Ông Vương Hồng Sển tìm thấy trong một tư liệu bằng tiếng Pháp Excursious et Reconnaissances, q. X, tháng 6/1885, tr. 178: Nguyễn ánh từ Vàm Nao [con sông nối Tiền Giang với Hậu Giang ở An Giang] định ra biển nhưng vì thấy có nhiều cá nhỏ tự nhiên nhảy vào thuyền, người sanh nghi nên không đi, sau rõ lại nếu đi thì khốn vì có binh phục của Tây Sơn tại Thủ Chiến Sai [Chợ Thủ, ngang đầu Cù lao Giêng, nay thuộc huyện Chợ Mới], vì vậy người [Nguyễn ánh] đặt tên (cá ấy) là cá linh để tri ân.
Chim báo điềm, thầy tu đoán chuyện kiết/hung rồi cho lời khuyên, Nguyễn ánh nghe theo nên thoát chết
Theo Huỳnh Minh Định Tường xưa, khoảng năm ất Tỵ (1775), chúa Nguyễn ánh tránh mặt Tây Sơn chạy vào Nam, xuống tới Định Tường. Náu mình trong bộ y phục dân dã, Ngài cùng với năm sáu vị quan theo hầu đến xin tá túc nơi chùa Long Tuyền. Mặc dầu không rõ Ngài là ai, nhưng Hòa thượng trụ trì cũng sẵn lòng thương cảm bao dung, vì cửa chùa vốn chẳng hẹp ai, gặp khi chúa Nguyễn đau yếu, Hòa thượng cũng tự tay chẩn mạch hốt thuốc điều trị rất tận tình.
Một đêm có chim linh bay vần vũ quanh chùa, kêu la inh ỏi mãi dường báo điềm gì. Thấy lạ, Hòa thượng đánh tay xem điều hung kiết thế nào. Đoán biết sẽ có sự chẳng lành cho khách lạ phương xa, Hòa thượng ngậm ngùi bảo chúa Nguyễn:
– Quý khách nên xa lánh chốn này, ở lâu ắt có chuyện chẳng lành xảy ra.
Vua nghe theo. Thế là thoát được sự truy lùng của quân Tây Sơn.
Sau khi lên ngôi Hoàng đế Gia Long, nhớ công ơn Hòa thượng chùa Long Tuyền, năm Gia Long thứ 10 (Tân Tỵ, 1811), nhà vua ngự tứ tên chùa là Long Nguyên (bãi đất rồng), thay cho tên cũ chùa là Long Tuyền (suối rồng), đồng thời cấp một số ruộng đất mấy mươi mẫu để chùa làm hương hỏa, và cho quân lính gìn giữ ngôi chùa, kể như “chùa vua”, (Sau, đến đời Thiệu Trị đổi tên chùa là Linh Thứu).
Đại Nam nhất thống chí chép về ngôi chùa Linh Thứu: “ở thôn Thịnh Phú, huyện Kiến Hưng, chùa rất cổ, cũng là nơi danh thắng, năm Gia Long thứ 10 ban biển ngạch đề “Long Tuyền tự”, năm thứ 11 sư chùa mộ 10 người dân ngoại tịch đặt làm phu chùa, được miễn binh dao, năm Thiệu Trị thứ 1, đổi tên hiện nay”.

* Hội viên Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam.
2. Với cây cỏ
Hai loài cây miền Nam được Nguyễn ánh ban mỹ danh, trong đó có một loại cây triều đình xem như “Quốc dụng”
Cây bần

Chuyện kể rằng có lần Nguyễn ánh chạy nạn theo đường biển (ngã Ba Tri) vào Hàm Long (sau do kỵ húy Gia Long, nên đổi gọi Hàm Luông). Nửa đêm đi lạc vào rạch Ba Lai (Cái Mít), dừng chân ở đồng Tam Quản (xã Hiệp Hưng, Giồng Trôm), chúa được một cụ già tên là Trương Tấn Khương giúp đỡ đưa ra Cù lao Đất đến nơi an toàn, kín đáo. Tại nơi ẩn trốn, vì đang đêm lại nhà nghèo nên gia đình ông Trần Văn Hạc (làm chức Cai nên cũng gọi Cai Hạc) dâng lên bữa ăn đạm bạc đỡ đói: cơm nguội ăn với mắm sống cá chốt cặp trái bần. Có lẽ do đói lại lần đầu tiên được dùng món lạ miệng nên chúa khen ngon, và hỏi tên trái. Ông Cai Hạc bẩm: “Trái ấy tên không đẹp, hạ dân không dám tâu lên”. Chúa cho phép nói. Cai Hạc chỉ vào rặng cây cặp mé nước được chiếu sáng bởi không biết cơ man nào là con đom đóm, và thưa là trái bần, nhân đó nói thêm vài đặc điểm của nó như, cho dù có bị ngập mặn cây bần vẫn không héo lá, vẫn kiên cường giữ đất (chống xói lở)… Thấy dáng cây giống như cây liễu trong thi phú đời Đường, đời Tống, sống trên đất thấp, bãi bùn nên chúa ban cho cây bần mỹ danh là thủy liễu – loại liễu mọc dưới nước.

Cây mù u

Cũng nh ư thế đó, Nguyễn ánh đã ban cho cây mù u là nam mai (cây mai phương nam – chép trong sự tích Gia Long tẩu quốc). Năm Kỷ Tỵ, Bộ Hộ tâu: “Kế hoạch 10 năm không gì bằng trồng cây, vì vậy xin sức đều khắp trong các hạt phải tận dụng đất mà trồng thật nhiều những loại cây có kinh tế cao. Sau 5 năm, 10 năm, đi kiểm tra, địa phương nào trồng được nhiều thì nghị thưởng xứng đáng” (Đại Nam thực lục), đồng thời cho chọn một trong những cây kinh tế cao ấy là cây mù u, để trước hết như một cách nhắc nhớ kỷ niệm tiên vương (Gia Long) thời còn bôn ba lận đận ở miền Nam, Ngài đã ban cho mù u mỹ danh là nam mai, đồng thời khuyến dụ rằng, trồng nam mai để có cây cao bóng mát cũng đem lại nhiều lợi ích nhất định, do đó nhà vua cho trồng ngay hai bên đường vào miếu thờ xã tắc để phát động, làm gương.

3. Về cơm ăn, nước uống
Nguyễn ánh và những người hộ giá lênh đênh giữa biển, nhịn khát 7 ngày đêm, trời động lòng liền cho nước ngọt.

Tháng 7 năm Quý Mão (1783), “Ngài ra cửa biển Ma Ly thám tình thế giặc, gặp thuyền giặc hơn 20 chiếc vụt tới vây sát thuyền ngự, thuyền ngự kéo buồm chạy về phía đông, lênh đênh ngoài biển 7 ngày đêm, trong thuyền hết nước, quân lính đều khát, Ngài lấy làm lo, ngữa mặt lên trời khấn rằng: Như tôi có mạng làm vua, xin cho thuyền ghé vào trong bờ để cứu tánh mạng mấy người trong thuyền! Nếu không, thời thuyền chìm xuống biển, tôi cũng cam tâm”. Rồi thời gió lặng sóng im, đứng trước thuyền ngó thấy mặt nước tự nhiên chia ra dòng trắng dòng đen, thấy có một vùng nước trong, trong thuyền có một người múc uống, nếm thấy ngọt, liền la to lên rằng: “Nước ngọt! Nước ngọt!”. Lúc bấy giờ ai cũng giành nhau múc uống. Ngài mừng, khiến múc 4, 5 chum, rồi nước mặn lại y như trước. Khi giặc đã lui rồi, thuyền ngự lại trở về Phú Quốc. Bà Quốc mẫu nghe Ngài về, mừng quá. Ngài thuật lại những tình trạng khổ sở khi ở biển, Bà Quốc mẫu than rằng: “Con đi khắp chân trời mặt biển, nhiều lúc gian nan; nhưng ở núi thời gặp gió lớn, ở biển thời gặp nước ngọt, coi đó cũng đủ biết ý trời, con đừng lấy gian hiểm mà ngã lòng!”. Ngài lạy tạ rằng: “Xin vâng lời mẹ dạy”. Ngài tuy còn dưỡng hối (chịu ở một nơi mà đợi thời vận) mà gió núi nước ngọt, ứng nhiều điềm tốt, thức giả ai cũng biết là có mạng làm vua.

Nam kỳ dâng thổ sản lên vua Tự Đức

Quốc triều chánh biên toát yếu chép, tháng 7 năm Tân Mùi (1871) Chánh tổng Trần Văn Y ở tỉnh Hà Tiên khiến người đem đồ sản vật (chiếu bông, mật ong, sáp, nước mắm, cá khô, lông chim v.v.) nhờ đạo Phú Yên dâng lên. Ngài dạy rằng: “Lòng dân như thế, thiệt bởi đức trạch triều đình đã sâu”. Ngài nhân làm bài phú Nam kỳ thổ sản.

4. Nhân dân che chở, giúp đỡ
Nguyễn ánh thoát nạn nhờ bọn ăn mày, bèn nhớ ơn.

Theo V ương Hồng Sển kể trong Sài Gòn năm xưa, vùng đất từ làng Nhơn Giang (trước 1855 tên Nhơn Ngãi, vùng Chợ Quán) đến giáp đường Cầu Kho, xưa kia nhà phố đông đúc lắm, mỗi nhà chung quanh đều có vườn tược, cây trái sum sê. Gần đây có một xóm nguyên là của những người ăn xin ăn mày khi trước. Thuở Nguyễn ánh tỵ nạn trong Nam, bọn này có công cứu giá. Theo khẩu truyền, bữa đó binh Tây Sơn truy nã ngặt lắm. Tưởng vua khó thoát chết. May sao chạy đến đây, bọn ăn mày ra tay ủng hộ. Một mặt họ chỉ đường cho vua ẩn núp. Một mặt họ xúm lại kẻ đánh trống, đứa đập thùng… làm phở lở thế nào, binh tướng Tây Sơn ngộ tưởng binh mã chúa Nguyễn tụ tập nơi đây đông lắm, e quả bất địch chúng, nên họ rút lui. Nguyễn ánh thoát nạn. Về sau nhớ ơn xưa, Gia Long cho phép lập xóm này, ban cho ba chữ: “Tân Lộc phường” (phường là xóm).

5. Với ng ười Khơme
Người Khơme tòng quân theo về và tuyệt đối trung thành chúa Nguyễn

Đó là Tồn A La, Thống quản đồn Uy/Oai viễn (ở bờ phía đông sông Trà Ôn, thuộc huyện Tuân Nghĩa, đặt từ năm Kỷ Hợi đầu đời trung hưng, sau đổi làm lỵ sở phủ Lạc Hóa – Trà Vinh nay), “vốn người Cao Mên, đầu đời trung hưng thường theo đi đánh dẹp, có công theo đi Vọng Các, quản đồn binh Xiêm La, kiêm quản hai phủ Trà Vinh, Mân Thít”, do lập được nhiều công to, được chúa Nguyễn ánh tin yêu nên ban cho tên Việt là Nguyễn Văn Tồn, lãnh coi khoảng 5.000 quân hầu hết là người Khơ me (đều được ban cho y phục như người Việt). Ông mất tháng giêng năm Canh Thìn (1820). Khi ấy, vua Minh Mạng truyền dụ Bộ Lễ rằng: “Nguyễn Văn Tồn tuy là người khác, nhưng hết sức làm tôi, thờ Đức tiên đế đã lâu, một lòng trung nghĩa, thiệt nên thương tiếc!”. Truyền quan tuyên lời dụ, Ngài cho ân tế một lần và cho 2 cây gấm Tàu, 20 cây vải, 200 quan tiền. (Sau đến năm Minh Mạng thứ 9 Tồn được tặng hàm Thống chế). Đức Thánh tổ bảo Bộ Lễ rằng: “Người Tồn vốn trung dõng, như ngươi Kim Mật Đê nhà Hán bên Tàu, khi trận đánh ở tỉnh Bình Định bị Tây Sơn bắt, thế mà đem quân về hết, thiệt là mạnh và khôn”.

Vẫn theo Quốc triều chánh biên toát yếu, vào tháng 4 năm Tân dậu (1801), chúa Nguyễn ánh đòi các vệ hậu quân về Kinh, lưu Nguyễn Văn Tồn ở quân thứ đánh giặc. Lúc trước, thành Bình Định bị hãm, Tồn bị giặc bắt, Tồn giả đò hết sức giúp giặc đánh mình, quân mình kêu mà Tồn không ngó lại, giặc lấy làm tin, đến bây giờ lén trốn về. Có người hỏi Tồn rằng: “Khi đi theo giặc sao mà đánh dữ thế?”. Tồn nói: “Như không làm cho quân ta bị thương, thời giặc không tin, nó đã không tin làm sao đem hết quân lính mà về được?”. Ai cũng phục là có trí.

Nhớ ơn che chở và cảm thông cuộc sống cơ cực của đồng bào, Nguyễn ánh truyền dụ: Cho người Khơme được tự do khai thác thuỷ lợi, không thâu thuế

Theo Quốc triều chánh biên toát yếu, tháng giêng năm Đinh sửu (1817), vua Gia Long ban dụ: “Cấm dân ta không được lãnh mua các chỗ thủy lợi của Chân Lạp”. Do tuân thủ lời dụ đặc ân này mà Tri huyện Trà Vinh Thủ Khoa Nghĩa phải chịu oan án Láng Thé. Chúng ta còn nhớ, lúc bấy giờ ở Láng Thé (Trà Vinh) có một bọn người hối lộ với quan trên giành độc quyền khai thác tôm cá dưới rạch. Người Khơme không chài lưới được nên ức lòng đệ đơn khiếu nại lên huyện, nhờ can thiệp. Tri huyện Bùi Hữu Nghĩa điều tra, nắm chắc vấn đề, bèn nói: “Việc tha thủy lợi là ân nghĩa cuả vua Thế Tổ. Nay ai nhỏ hơn Ngài mà đứng bán Láng Thé thì có chém đầu cũng không sao”. Rồi cho phép nông dân Khơme được tiếp tục chài lưới tự do như trước, mà không phải đóng thuế thủy lợi cho bất kỳ ai. Bọn người kia ỷ quyền thế đánh đập họ. Hai bên xô xát gây đổ máu. Sẵn ghét tính kiêu hãnh cương trực của Bùi, quan tỉnh cho lính đến bắt ông về tỉnh đường xét xử. Bùi bị khép tội chủ mưu để dân làm loạn, bèn thượng sớ xin cách chức ông rồi kết án trảm giam hậu. Theo lệ định, tội này không chém liền, phải ngồi tù, đợi lịnh vua phê chuẩn vào mỗi mùa thu hàng năm (gọi thu thẩm). Do đó, để tranh thủ đòi lại mạng sống cho chồng, theo lời truyên, vợ ông là bà Nguyễn Thị Tồn đến tỉnh van xin, không được, nên tức tốc lặn lội tận kinh sư “gióng trống tam tòa” thượng sớ kêu oan. Nhờ đó ông thoát chết, nhưng phải theo quân tiền hiệu lực, đái công chuộc tội ở vùng biên giới tỉnh An Giang.

Nhà vua cho lập đàn tế chiến sĩ tử trận, đặc biệt ưu ái tử sĩ miền Nam

Quốc triều chánh biên toát yếu ghi: “Tháng 7 năm Tân Tỵ (1821), vua Minh Mạng cho lập hai đàn tế chiến sĩ Nam, Bắc, tử trận (nhưng tế Nam chiến sĩ thời lễ phẩm trọng hơn)”.

6. Một số sơn danh, địa danh, thuỷ danh lịch sử
Nhân dân đặt gọi một số sơn danh, địa danh, thuỷ danh… để ghi nhớ kỷ niệm nơi Nguyễn ánh từng dặt chân đến trong thời gian còn lẩn tránh quân Tây Sơn Núi Cấm:

Là ngọn núi tiêu biểu vùng Thất Sơn (An Giang – cao nhất, và có nhiều huyền thoại nhất). Ngay tên gọi của nó cũng được xây dựng thành một truyền thuyết, rằng ngày trước Nguyễn ánh có đến lẩn trốn trên núi này, do vậy có tên là núi Cấm (đoàn hộ giá cấm bất kỳ ai léo hánh khu vực này, và canh phòng rất nghiêm ngặt, sợ bị đối phương phát hiện).

Địa danh Giá Ngự:

ấ p Giá Ngự thuộc xã Tân Hưng Đông (Cà Mau). Xưa, Nguyễn ánh từ rạch Cái Rắn ra biển phải qua rạch Rau Giừa, tới rạch Cái Nước, rồi đổ ra sông Bãi Háp mới ra Vịnh Xiêm La (đi ngả này thì không phải qua sông Ông Đốc). Trên đường, Nguyễn ánh có dừng lại tại một nơi thuộc hữu ngạn sông Bãi Háp, ở chỗ vàm rạch Cái Nước đổ ra để cụ bị thêm lương thực, nhưng do nhằm lúc mưa bão, cuộc hành trình đành phải dừng lại khoảng nửa tháng. Khi Nguyễn ánh đi rồi, người trong vùng gọi nơi đây là xóm Giá Ngự, sau nâng lên thành ấp, vẫn dùng tên ấy. (Theo Nguyễn Hữu Hiếu, Tìm hiểu nguồn gốc địa danh Nam Bộ).

Địa danh Long Hưng và Cây Da Bến Ngự:

Năm Đinh Mùi đầu đời trung h ưng khi Nguyễn ánh từ Xiêm La trở về đóng quân ở Nước Xoáy (gọi đồn Hồi Oa xây đắp năm Đinh Tỵ 1787, thuộc thôn Tân Long, huyện Vĩnh An, nay thuộc xã Long Hưng, huyện Lấp Vò, Đồng Tháp). Trong thời gian trú ngụ ở đây, ông thường ra ngồi câu cá, hoặc suy nghĩ lo toan việc xây dựng lại cơ đồ tại gốc da sát mé rạch. Sau khi lên ngôi, Gia Long cho đổi tên thôn Tân Long thành thôn Long Hưng và từ đó cây da bên nước chỗ ông ngồi trước đây được dân gian gọi là Cây Da Bến Ngự. Đại Nam nhất thống chí ghi: Năm Tự Đức thứ 2 Tổng đốc Doãn Uẩn tra hỏi sự tích cũ, chuẩn cho lập bia ở nền đồn cũ để ghi thắng tích.

Rạch Long ẩn và Ao Ngự:

Tên tr ước rạch Long ẩn là Rạch Rắn, một nhánh của sông Bảy Háp, dài chừng 7 cây số, rộng 30 thước, ngọn ăn thông tới xóm Ông Tự, thuộc xã Phong Lạc (Cà Mau) bằng một con kinh đào.

Tương truyền, lúc Nguyễn ánh bị Tây Sơn truy đuổi, có một thời ông lẩn trốn ở đây, nên sau này dân địa phương gọi nơi đây là rạch Long ẩn.

Khi bị bao vây, nhờ có đô đốc Nguyễn Văn Vàng “liều mình cứu chúa” nên Nguyễn ánh mới trốn thoát được. Trong thời gian ở đây, Nguyễn ánh đã cho binh sĩ đào đất đắp một cái nền cao để dựng trại (kế bên Xóm Rắn hiện nay), và đào một cái ao đường kính khoảng 15 thước để lấy nước sinh hoạt. Ngày nay, nền trại đã bị dân ban ra làm ruộng, song cái ao vẫn còn, nước ngọt quanh năm, được gọi là Ao Ngự. Nhà vua/nhà nước đặt gọi sơn danh, thuỷ danh, địa danh.

Kinh Thoại Hà

Sách Đại Nam nhất thống chí ghi kinh này ở bờ phía tây sông Hậu Giang, cách huyện Tây Xuyên 63 dặm về phía đông nam, trước gọi là sông Ba Rạch, từ Hậu Giang chia ra chảy về phía tây nam 4 dặm rưỡi đến ngã ba hợp với sông Cần Đăng, lại chảy về phía tây nam 59 dặm đến cửa sông Lạc Dục, từ đây chảy về phía nam 57 dặm rưỡi đến sông Song Khê, gần đất Chân Lạp, cây cỏ um tùm, đường sông lầy lội, thuyền ghe không đi được. Năm Gia Long thứ 17 sai Trấn thủ Vĩnh Thanh Nguyễn Văn Thoại sửa sang đường thủy, bắt người kinh, người thổ 1.500 người, nhân đường cũ mà đào vét cho sâu rộng, hơn một tháng thì xong, từ đấy mới có đường thông với Kiên Giang, rất là tiện lợi. Cho gọi tên sông là “Thoại Hà” để biểu dương công lao của Nguyễn Văn Thoại.

Núi Thoại Sơn – huyện Thoại Sơn
Theo Đại Nam nhất thống chí, núi ở cách huyện Tây Xuyên 71 dặm về phía nam, cao 20 trượng, chu vi 11 dăm rưỡi, tục gọi núi Lấp. Năm Gia Long thứ 17, Trấn thủ Vĩnh Thanh là Nguyễn Văn Thoại sửa sang sông Thoại Hà, công việc xong, vẽ đồ bản dâng lên, nhà vua thấy bờ đông bắc sông có núi Lấp (tức núi Sập), cho đổi tên gọi là Thoại Sơn để nêu công lao của Nguyễn Văn Thoại; ông dựng đền thờ thần ở chân núi và lập bia, khắc hai chữ lớn “Thoại Sơn”. Từ sơn danh ấy, nay trở thành địa danh: huyện Thoại Sơn, tỉnh An Giang.
Trở lên tuy chỉ là “một vài” trong vô số sự kiện/truyền thuyết có liên quan, nhưng thiết tưởng bấy nhiêu đó cũng quá đủ để minh chứng cái tình, cái nghĩa của người miền Nam đối với chúa Nguyễn, và tất nhiên cái tinh thần đạo nghĩa ấy, Nguyễn ánh và dòng tộc ông không thể không đời đời lưu tâm, tạc dạ.

03/06/2010 at 11:25 AM Leave a comment

NGUYỄN HOÀNG VÀ BƯỚC ĐẦU TIẾN VÀO VÙNG NAM TRUNG BỘ

TS. Nguyễn Thị Hậu*

Khi nói đến lịch sử v ương quốc Chămpa, nhiều nhà nghiên cứu đã cho rằng vương quốc Chămpa không phải là một nhà nước thống nhất chặt chẽ và lâu dài, mà là một liên minh của các tiểu vương quốc theo từng tiểu vùng địa – văn hóa, gọi là mandala. Như vậy với thực thể vùng đất Bình Định xưa thuộc tiểu vương quốc Vijaya, vùng Phú Yên xưa – Môn Độc quốc và Panduranga – Phan Rang là Bôn Đà Lang, thì việc vua Lê Thánh Tông chấp nhận sự tồn tại của nước Hoa Anh (vùng đất Phú Yên) song song với sự tồn tại của tiểu vương quốc phía nam đèo Đại Lãnh của Bô Trì Trì là điều dễ hiểu. Đây là việc sắp đặt lại (theo hướng có lợi cho Đại Việt) một mô hình địa – chính trị đã có sẵn trong lịch sử vương quốc Chămpa nói chung và vùng đất phía nam Chămpa nói riêng. Tuy nhiên cần phải nhìn nhận rằng, sự tồn tại của các tiểu quốc trên luôn chịu ảnh hưởng và không thể tách rời mối quan hệ vô cùng chặt chẽ – ở một mức độ nào đó là sự phụ thuộc – vào Đại Việt, vào tình hình chính trị cũng như các chính sách của Đại Việt đối với các tiểu quốc này. Như vậy, để tìm hiểu về vùng đất Phú Yên giai đoạn này cũng là để phác dựng lại nước Hoa Anh trong lịch sử, trước hết cần phải tìm hiểu tình hình Đại Việt khoảng từ cuối thế kỷ XV đến đầu thế kỷ XVII.

Sau cuộc Nam chinh năm 1470 – 1471, vua Lê Thánh Tông lấy đất Chiêm Thành vừa chiếm lại đặt làm đạo Thừa tuyên Quảng Nam, cộng trong nước là 13 Thừa tuyên, danh từ Quảng Nam có từ lúc ấy. Đạo Thừa tuyên Quảng Nam thống lãnh 3 phủ, 9 huyện, địa bàn từ Quảng Nam đến hết Bình Định ngày nay. Nhà vua còn tổ chức lại việc cai trị các châu Thăng, Hoa, Tư, Nghĩa đã có từ trước, cho người Chiêm đầu hàng là Ba Thái làm Đồng Tri phủ Đại Chiêm. Với ý định lập cương giới Đại Việt ở đèo Cù Mông – sau khi dựng nên hai quốc gia đệm ở phương nam – đã hình thành dưới thời vua Lê Thánh Tông, lại tiếp tục được củng cố dưới triều các vua sau đó của nhà Lê. Sau cuộc Nam chinh trở về hẳn việc chiêu mộ nhân dân vào vùng đất mới tiếp tục diễn ra và ngày càng mạnh mẽ. Vùng đất mới là Phủ Hoài Nhân tức tỉnh Bình Định ngày nay là vùng đất rộng rãi, đồng bằng phì nhiêu, có cửa biển lớn… có sức hấp dẫn đối với lưu dân, trong đó có nhiều binh lính tham gia chiến tranh đã ở lại vùng đất mới và mang theo gia đình của họ, cũng như thuận tiện cho việc lưu đày đến nơi xa xôi những tù nhân, tội phạm của nhà nước. Những cuộc di dân mà triều đình xuống chiếu chiêu mộ khuyến khích khai thác đất mới với quy mô lớn có vai trò quan trọng của nhiều gia đình dòng họ. Truyền thống của người Việt trong việc duy trì tính chất đại gia đình đã đóng một vai trò quan trọng trong việc di dân vào phía Nam, truyền thống này khuyến khích di dân đi theo từng nhóm cùng huyết thống hay họ tộc. Ngoài ra còn có cuộc di cư của những người nghèo khó muốn tìm chỗ làm ăn dễ dàng, hay can tội phải trốn tránh, bất mãn hay vì một lý do nào đấy không thể sống tại quê cũ, khi lẻ tẻ một vài gia đình, khi từng nhóm nhỏ vẫn liên tục và âm thầm diễn ra. Các cuộc di dân từ sau năm 1471 khá thuận lợi, người Việt vào vùng đất mới sống yên ổn vì không còn lo sợ xung đột giữa Đại Việt và Chămpa. Mục đích của những người dân Việt khi di cư đến vùng đất mới là nhằm tìm kiếm đất đai để cày cấy làm ăn chứ không phải để bắt tù binh nô lệ hay cướp bóc của cải. Nhờ vậy mà họ sớm hòa nhập với cộng đồng cư dân bản địa, lập nên làng xóm mới, cùng lao động và hòa hợp trong những sinh hoạt văn hóa. Từ đó, phía bắc đèo Cù Mông, thuộc thừa tuyên Quảng Nam chính thức là đất đai của Đại Việt còn từ phía nam đèo Cù Mông “thuộc man lèo” – một tiểu quốc của người dân tộc khác người Việt – chính là nước Hoa Anh.

* Viện Nghiên cứu phát triển Thành phố Hồ Chí Minh
Theo Đại Việt sử ký toàn thư Phủ biên tạp lục, tình hình vùng đất mới trong thời kỳ nửa sau thế kỷ XV như sau:

Tháng t ư năm thứ 12 niên hiệu Hồng Đức (Tân Sửu, 1481), nhà vua xét vì tại Quảng Nam không có thuyền, nên hàng năm giang thuế quân dân thường bị tổn thất. Vì vậy Ngài ban sắc từ nay trở đi, hễ mỗi khi tới kỳ nạp thuế, Ngài cho phép Ty Thừa tuyên Quảng Nam đưa văn thư tới Tam ty Thuận Hóa, đồng thời giao phó các hạng vật thuế cho Tam ty Thuận Hóa ấy, để nơi ấy sai phái người chuyển đệ lên cấp trên đăng nạp.

Tháng m ười năm thứ 19 niên hiệu Hồng Đức (Mậu Thân, 1488), nhà vua hạ lệnh cho viên tham chánh Quảng Nam là Phạm Bá Tôn rằng: hễ quân sĩ hay nhân dân sinh con trai từ 15 tuổi trở lên mà có vẻ thông minh hiếu học, thì đến ngày thi Hương, hội đồng phải lực chọn lấy sinh viên sung vào danh sách sinh đồ trong phủ.

Tháng t ư năm thứ 21 niên hiệu Hồng Đức (Canh Tuất, 1490), nhà vua định lại bản đồ trong toàn quốc gồm 13 xứ thừa tuyên… Từ đây trở về sau đời đời phải noi theo và gìn giữ như vậy… Chỉ có hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam thì họ Nguyễn nối đời nhau làm chức Trấn thủ, và trong thời gian ấy, họ khai thác thêm nhiều.

Nh ưng từ đầu thế kỷ XVI Đại Việt có những biến đổi quan trọng, tình hình đã diễn biến theo một chiều hướng khác hẳn và dẫn đến sự thay đổi căn bản bộ mặt của đất nước.

Năm 1527, nhà Mạc chiếm ngôi nhà Lê, rồi đến việc họ Trịnh nắm quyền bính, họ Nguyễn bị nghi kỵ và nguy cơ bị họ Trịnh hãm hại. Năm 1558, Đoan quận công Nguyễn Hoàng xin vào trấn thủ Thuận Hóa (gồm Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên – Huế ngày nay), tiếp đó vào năm 1570 xin được giao thêm quyền trấn thủ Quảng Nam (từ Quảng Nam đến Bình Định ngày nay). Từ đó họ Nguyễn ở phía nam bắt đầu ra sức xây dựng lực lượng của mình, biến miền Nam thành giang sơn cát cứ riêng biệt, lập thế đối trọng với chúa Trịnh ở phía Bắc. Rồi sang thế kỷ XVII là cuộc chiến tranh Trịnh – Nguyễn lấy sông Gianh (Quảng Bình) làm ranh giới Đàng Ngoài và Đàng Trong.

Đàng Trong d ưới thời Đoan Quận công Nguyễn Hoàng (1558 – 1613) tương đối yên ổn do kinh tế khá phát triển và cũng nhờ vào sự khôn khéo của Nguyễn Hoàng với chính quyền Đàng Ngoài (vua Lê, chúa Trịnh và kể cả với nhà Mạc). Thuận Quảng lúc bấy giờ đất đai mới mở mang nhưng dân cư còn ít chưa đáp ứng nhu cầu khai khẩn – một nhu cầu bức thiết của Chúa Nguyễn để thực hiện được mục đích cát cứ. Tuy trong dân cư có cả những thành phần rất phức tạp nhưng trong vài mươi năm Đoan Quận công đã “vỗ về quân dân, thu dùng hào kiệt, nhẹ xâu thuế, dân chúng vui, phục, thường gọi là chúa Tiên”. Một mặt Chúa Nguyễn phải đối phó với quân nhà Mạc và cả chúa Trịnh bằng các cuộc chiến và thủ đoạn chính trị khôn khéo, mặt khác vẫn tiến hành công cuộc phát triển kinh tế Đàng Trong bằng nông nghiệp, thương nghiệp và nhiều ngành sản xuất khác… Để làm được điều đó chắc hẳn chính quyền Chúa Nguyễn phải có sự ứng xử mềm dẻo với tiểu quốc của người “man lèo” ở biên giới phía nam để yên ổn mà rảnh tay chống đỡ với phía bắc. Rõ ràng thời gian này mối bận tâm của chính quyền Chúa Nguyễn là phía bắc với những quan hệ ràng buộc và những mưu đồ chính trị của các thế lực Lê – Mạc – Trịnh – Nguyễn. Đấy cũng là một nguyên nhân giải thích vì sao sử nhà Nguyễn ghi chép về giai đoạn này của Nguyễn Hoàng ở Thuận – Quảng và hoạt động của ông với nhà Lê ở phía bắc khá kỹ mà hầu như không ghi chép gì về các tiểu quốc phía nam, trong đó có nước Hoa Anh. Mặt khác có thể suy đoán rằng, do tình hình nội bộ Đại Việt như vậy nên tại ba tiểu quốc này cư dân Chăm và các tộc người khác tiếp tục cuộc sống tương đối yên ổn, hầu như sử sách không ghi chép một sự kiện lớn nào xảy ra cho đến cuối thế kỷ XVI, khi mà việc thiết lập vương quyền cát cứ của Chúa Nguyễn đã rõ ràng. Từ lúc đó đối với các tiểu quốc Hoa Anh và Chiêm Thành, chính quyền Chúa Nguyễn bắt đầu có những động thái khác nhằm từng bước tiến về phía nam. Nhưng trước khi những sự kiện đó xảy ra, nước Hoa Anh đã tồn tại như thế nào?

Địa bàn n ước Hoa Anh về đại thể nằm giữa đèo Cù Mông và Đèo Cả – một trong những tiểu vùng địa – lịch sử của vương quốc Chămpa, với cấu trúc 3 yếu tố cơ bản theo truyền thống một “tiểu quốc” Chămpa: Dòng sông thiêng là sông Đà Rằng (sông Ba) có ngọn núi Thiêng núi Đá Bia – Linga-parvatha (Tối linh Dương Vật), Thành Hồ, cảng thị Đông Phước.

Sông Đà Rằng với lợi thế là con sông duy nhất ở miền Trung thông lên đến Tây Nguyên có một vai trò rất quan trọng đối với người Chăm. Sử thời Nguyễn cho biết, nhà Nguyễn đã từng đặt trạm giao dịch trên sông Ba để thông thương với khu vực rừng núi rộng lớn ở phía tây Phú Yên. Theo Đại Nam nhất thống chí “ở xã Thạch Thành ở phía tây huyện Tuy Hòa có trường giao dịch và thủ sở ở đây, nước từ sông Ba chảy qua phía nam huyện lỵ đổ ra trấn Đà Diễn”. Thạch Thành là vùng bán sơn địa tiếp giáp giữa đồng bằng Tuy Hòa và vùng núi phía tây. Đây là cửa ngõ thông thương với Thủy Xá, Hỏa Xá, cũng là nơi trao đổi buôn bán các sản phẩm nổi tiếng một thời của núi rừng như trầm hương, ngà voi, sừng tê cũng như những lâm sản quý khác xuống miền xuôi, đồng thời các loại hàng hóa của miền biển, đồng bằng cũng từ đây đi lên miền núi.

Từ nguồn tài liệu tiền cổ tìm thấy ở khu vực Đông Ph ước (xã Hòa An huyện Phú Hòa) trong nhiều năm, khối lượng đến hơn 700 kg. Về loại tiền gồm hơn 80 hiệu tiền đồng trong đó có 60 hiệu là tiền các triều đại phong kiến Trung Quốc từ Đường, Tống, Nguyên, Minh, Thanh. Còn lại có tiền Triều Tiên, tiền Nhật Bản và các hiệu tiền Việt Nam từ nhà Lê, Tây Sơn, chúa Nguyễn và triều Nguyễn, có cả tiền Mạc Thiên Tứ ở Hà Tiên vào thế kỷ XVIII… Các nhà khảo cổ đã khảo sát khu vực này và nhận thấy vị trí của Đông Phước rất thuận lợi về đường thủy, là điểm hợp lưu giữa sông Chùa, Rạch Bàu Dài và một nhánh của sông Đà Rằng. Từ đó đã có nhận định có nhiều khả năng Đông Phước là một hải cảng lớn thời Chămpa. Trên sông Đà Rằng thì cảng thị Đông Phước là cửa ngõ thông ra biển và Thành Hồ – cửa ngõ lên châu Thượng Nguyên của vương quốc Chămpa(8). Thôn Đông Phước còn nằm trong phạm vi phân bố của các di tích Chămpa nổi tiếng như Tháp Nhạn, Thành Hồ.

Thành Hồ có thể được xem là Kinh thành của tiểu quốc vùng Phú Yên.

Theo L ương Ninh trong Lịch sử vương quốc Chămpa: Từ sau năm 1471, việc xây dựng đền tháp hầu như bị ngừng hẳn để dồn sức cho việc xây dựng một thành lũy chưa từng có. Thành này ở phía tây thị xã Tuy Hòa, cách khoảng 15km, nằm trên bờ bắc sông Đà Rằng. Thành xây gạch cao khoảng 3 m, phía ngoài có hào nước, bên trong có giếng nước. Thành có hình vuông, bốn cạnh không đều nhau, mỗi cạnh dài khoảng 800 m. Trước thế kỷ XV ta chỉ thấy nói đến thành ở phía bắc Vijaya (Quy Nhơn), là thành mà Đại Nam nhất thống chí đã mô tả, gọi là thành An Nghiệp, phía Bắc sông Đà Diễn (còn gọi là sông Đà Lãng), “tương truyền do người Chiêm xây, tục gọi là thành Hồ”. Chắc không chỉ có việc xây thành, mà sau khi đã đứng yên lại được rồi, các vua Chiêm Thành không những muốn củng cố vương quốc mà có thể còn muốn giành lại nước Hoa Anh nhân lúc Đại Việt bị khủng hoảng chính trị vào đầu thế kỷ thứ XVI, tuy lực lượng của họ bấy giờ đã rất suy yếu(9).

Những phát hiện mới đã cho biết Thành Hồ có hai giai đoạn với 2 chức năng khác nhau:
– Giai đoạn sớm trước thế kỷ XI: Thành Hồ với chức năng là trung tâm quân sự, kinh tế và văn hóa của một tiểu vùng/ tiểu quốc của vương quốc Chămpa (Môn Độc quốc).

– Giai đoạn muộn, thế kỷ XV – XVI: Thành Hồ có chức năng là “kinh đô” của một tiểu quốc ở đây là nước Hoa Anh.

Sang thế kỷ XVII do những biến động lịch sử nên Thành Hồ mất dần vai trò của nó khi vùng đất này sáp nhập vào lãnh thổ Đại Việt (xứ Đàng Trong của chính quyền Chúa Nguyễn).

(8) Nguyễn Danh Hạnh (2003), Lịch sử Phú Yên qua nguồn tư liệu tiền cổ, Tạp chí Xưa và Nay, số 140.
(9) Lương Ninh (2004), Lịch sử Vương quốc Chămpa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.185.

Nh ư vậy có thể hình dung nước Hoa Anh thế kỷ XV – XVI tương tự một tiểu quốc Chămpa trước đây, với thành phần dân cư chính là người Chăm sinh sống ở đồng bằng và miền ven biển, phía tây giáp Nam Bàn còn có một số tộc người thiểu số khác. Cuộc sống tương đối yên ổn, tiếp tục lối sống từ trước đó cả về phương thức kinh tế và sinh hoạt xã hội. Hoa Anh là “vùng đệm” giữa Đại Việt và Chiêm Thành, sau năm 1471 phần lớn người Chăm vào sống tại Chiêm Thành (Phan Rang) hoặc chạy lên miền núi. Cũng do tính chất “vùng đệm” nên chắc rằng tại đây thỉnh thoảng vẫn xảy ra xung đột tranh chấp, đây cũng là nguyên nhân làm cho vùng đất Phú Yên tuy khá rộng rãi màu mỡ nhưng lúc này dân cư không đông.

Sau khi nhận quyền trấn thủ Quảng Nam (1570), năm 1578 Đoan Quận công Nguyễn Hoàng đã cử Lương Văn Chánh làm Tri huyện Tuy Viễn, một trong hai huyện của Bình Định giáp với nước Hoa Anh, và giao nhiệm vụ chiêu tập lưu dân đến Cù Mông, Bà Đài, khẩn hoang ở Đà Diễn. Theo Đại Nam liệt truyện tiền biên, Lương Văn Chánh người huyện Tuy Hòa tỉnh Phú Yên. Tiên tổ là người Bắc Hà, lúc trước làm quan với nhà Lê đến chức Đô chỉ huy sứ. Đầu năm Mậu Ngọ (1558) ông theo Nguyễn Hoàng vào Nam. Khoảng năm Mậu Dần (1578), người Chiêm Thành đến lấn cướp. Ông mang quân đến Đà Diễn, đánh chiếm lấy Thành Hồ. Sau đó chiêu tập dân Chiêm khai khẩn đất hoang ở Cù Mông, Bà Đài, cho dân di cư đến đây. Lại mộ dân khẩn hoang trên triền núi sông Đà Diễn, chia lập thôn ấp, ngày dần đông đúc. Như vậy có thể hiểu, vào năm 1578 Nguyễn Hoàng cử Lương Văn Chánh vào huyện Tuy Viễn với nhiệm vụ chủ yếu là giữ yên ranh giới phía nam với Hoa Anh – thực chất là với Chiêm Thành vì Hoa Anh là vùng ngăn cắt giữa Đại Việt và Chiêm Thành. Nhưng do “người Chiêm đến lấn cướp” (Hoa Anh) nên Lương Văn Chánh đã “đánh chiếm Thành Hồ” – “thủ phủ” của Hoa Anh nhằm ngăn chặn ý định của Chiêm Thành chiếm lại đất cũ. Cùng với biện pháp quân sự, ông thực hiện biện pháp kinh tế là chiêu mộ dân vào khai khẩn nơi đất hoang vì dân cư ở đây thưa thớt, có lẽ do trước đó phần lớn người Chăm đã vào sinh sống tại nước Chiêm Thành của Bô Trì Trì hay lùi lên vùng núi cư trú cùng các tộc người khác trong nước Nam Bàn. Biện pháp kinh tế này đã tạo sự ổn định cho Hoa Anh, đồng thời cũng tạo điều kiện thuận lợi để người Việt từ vùng Thuận Quảng vào vùng này ngày càng đông đúc. Trên cơ sở đó vào năm 1597 Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn Hoàng đã có công văn lệnh cho Lương Văn Chánh, Tri huyện Tuy Viễn, trấn An Biên đem dân vào khai khẩn vùng đất Phú Yên. Công văn này thực chất như sự công nhận thực tế “lưu dân đi trước nhà nước theo sau” – một quy luật trong quá trình Nam tiến của người Việt. Nghĩa là từ sau năm 1578 tại nước Hoa Anh đã có khá nhiều người Việt sinh sống, hòa đồng với người Chăm và một số tộc người khác. Đến thời điểm 1597 chính quyền chúa Nguyễn – do những nhu cầu về chính trị, đồng thời cũng nhận thấy thời cơ đã thuận lợi – nên đã công khai ra lệnh “đem dân khai khẩn” vùng đất Phú Yên.

Nội dung công văn năm 1597 của Nguyễn Hoàng như sau(10). Nguyên văn:
(10) Trần Viết Ngạc (2004), Về một công văn của Nguyễn Hoàng năm 1517, Tạp chí Xưa và Nay, số 140
Thị Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh năng tòng quân nhật cửu hữu công, quyền Tuy Viễn huyện, An Biên trấn, văn:

Liệu suất Bà Thê xã trục hạng nhân số tính khách hộ các ph ương tòng hành ứng vụ. Nhưng suất thủ khách hộ nhân dân tự Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Niễu đẳng xứ, thượng chí nguồn di, hạ chí hải khẩu, kết lập gia cư địa phận, khai canh hoang nhàn điền thổ để thu nạp thuế như lệ.

Nh ược sự chủ nhiễu dân, khám đắc xử tội.
Tư thị.
Quang Hưng, nhị thập niên,
Nhị nguyệt sơ, lục nhật
Tổng trấn tướng quân
Chi ấn.

Bản dịch:

Dạy Phù Nghĩa hầu Lương Văn Chánh đã giữ việc quân lâu ngày có công trạng, quyền coi huyện Tuy Viễn, trấn An Biên rằng:

Hãy liệu đem số dân xã Bà Thê đã trục vào hạng dân và các thôn ph ường khách hộ theo hầu công việc, lấy riêng số dân khách hộ các xứ Cù Mông, Bà Đài, Bà Diễn, Đà Niễu, trên từ nguồn mọi dưới đến cửa biển, kết lập gia cư địa phận, khai khẩn ruộng đất hoang cho tới khi thành thục sẽ nạp thuế như lệ thường. Nhược bằng vì việc mà nhiễu dân, điều tra ra sẽ bị xử tội.

Nay dạy.
Năm Quang Hưng thứ hai mươi,
Tháng hai, ngày mùng sáu.
ấn
Tổng Trấn Tướng Quân.

Văn bản trên đã cung cấp những thông tin quan trọng.
Thứ nhất, vào khoảng thời gian trước sau 1597 Tổng trấn Thuận Quảng Nguyễn

Hoàng còn đang ở phía Bắc ứng phó với nhà Mạc, giúp vua Lê trong việc bang giao với nhà Minh. Năm Quý Tỵ Quang Hưng thứ 16 (1593), năm này họ Mạc mất… tháng 5 Thái phó Đoan quận công Nguyễn Hoàng từ Thuận Hóa đích thân đem tướng sĩ, voi ngựa, thuyền ghe về Kinh lạy chào, đem sổ sách về binh lương, tiến, lụa, vàng bạc, châu báu, kho tàng của hai trấn Thuận Hóa và Quảng Nam dâng nộp. Năm 1596 vua Lê sai ông và nhiều quan lại khác đến cửa Trấn Nam Giao để sứ nhà Minh “xem có thực là con cháu nhà Lê hay không… nhưng nhà Minh dây dưa thoái thác, đòi lấy người vàng ấn vàng theo lệ cũ, không chịu đến khám thành ra quá kỳ hạn”. Năm 1597, tháng 4 ông lại theo nhà vua lên cửa Trấn Nam Giao “cùng với quan nhà Minh… cử hành hội khám. Trong lễ giao tiếp, hai bên vui vẻ mừng nhau. Từ đấy hai nước Nam Bắc lại trao đổi với nhau”. Thời gian này Nguyễn Hoàng “nhiều lần được sai đi chinh phạt, cha con cùng gắng sức, hoàn toàn không có ý gì khác”. Năm 1599 tháng 4, Trịnh Tùng được vua Lê Kính Tông tấn phong Đô Nguyên súy, Tổng Quốc Chính, Thượng phụ Bình an vương, mở phủ, đặt quan lại riêng, họ Trịnh bắt đầu tập tước vương. Năm 1600 tưỡng thủy quân là Kế quận công Phan Ngạn làm phản. Sai Thái úy Nguyễn Hoàng đem quân đi đánh, ông lập mưu trốn về Thuận Hóa, để con trai và cháu nội lại làm con tin(11). Chắc hẳn trong thời gian ở Kinh đô Nguyễn Hoàng đã nhận biết trước tình thế chính quyền “vua Lê – chúa Trịnh” nên càng nung nấu ý định thiết lập giang sơn riêng ở Đàng Trong. Vì vậy ông đã không lơi lỏng điều hành công việc ở Thuận Quảng, đặc biệt quan tâm đến việc phát triển vùng trấn nhậm về phía nam. Công văn này chính là một trong những hành động cụ thể thể hiện ý định đó.

Thứ hai, văn bản trên là một chứng cớ vô cùng xác thực và quý hiếm cho biết một thời điểm quan trọng trong quá trình khai phá phần lãnh thổ phía Nam của xứ Đàng Trong. Đó là từ cuộc Nam chinh của Lê Thánh Tông (1471) đến khi người Việt chính thức lập làng mạc trên vùng đất Phú Yên theo chủ trương của chính quyền (Đàng Trong) là 126 năm, một thời gian khá dài đủ để cho những lưu dân người Việt trước đó và người Chăm tiếp xúc, giao lưu và hợp sinh sống làm ăn. Ngoài ra, cũng cần chú ý rằng, vào năm 1494 vua Chiêm Thành là Bô Trì Trì mất. Đây là người được vua Lê Thánh Tông phong cho làm vua đất Chiêm Thành (vùng Phan Rang) vào năm 1471. Vào giữa thế kỷ XVI vua Chiêm Thành là Po At (theo niên giám từ 1553 – 1579) cũng mất vào khoảng 1578(12). Chúa Nguyễn đã lợi dụng cơ hội này lấn vào “vùng đệm” Hoa Anh mà không lo sợ sự phản ứng từ Chiêm Thành. Vì vậy khi lệnh này được thực thi thì trên vùng đất Hoa Anh hầu như không có phản ứng nào đáng kể.

Thứ ba, tuy là lệnh di dân vào vùng đất mới nh ưng Nguyễn Hoàng đã đưa ra lệnh răn đe trừng trị quan lại nếu lợi dụng “chủ trương” này mà nhũng nhiễu dân chúng. Ta nên hiểu lệnh này không chỉ ngăn ngừa việc “nhũng nhiễu” di dân người Việt mà còn, hay chủ yếu, là đối với người Chăm – cư dân bản địa. Biện pháp này nhằm yên dân, tạo ảnh hưởng tốt cho chính quyền Đàng Trong, chuẩn bị cho những bước đi tiếp theo về phía nam của chúa Nguyễn.

Thứ t ư, từ tư liệu lịch sử này vai trò của Lương Văn Chánh được khẳng định là người có công lớn trong việc khai phá vùng đất Phú Yên.
Sau khi từ Thăng Long về Đoan Quận công Nguyễn Hoàng dời vào dinh Cát Trấn Quảng Nam, là nơi đất tốt, dân đông, sản vật giàu có, số thuế thu vào nhiều hơn đất Thuận Hóa mà quân số thì cũng bằng quá nửa. Năm 1602, Nguyễn Hoàng sai con là Nguyễn Phúc Nguyên vào làm Trấn thủ Quảng Nam. Năm 1604 cải đặt và đổi tên các khu vực hành chính hai xứ Thuận Hóa và Quảng Nam.
Về thời điểm năm 1611 các bộ sử sách triều Nguyễn đều có ghi chép. Theo Đại Nam thực lục tiền biên: “Tân Hợi năm thứ 54 (1611) bắt đầu đặt phủ Phú Yên. Bấy giờ quân Chiêm Thành sang xâm lấn biên giới. Chúa sai Chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh lấy được đất ấy, bèn đặt làm một phủ, cho hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa lệ thuộc vào. Nhân sai Văn Phong làm lưu thủ đất ấy”. Còn theo Đại Nam nhất thống chí thì: “Bản triều Thái Tổ Gia Dụ Hoàng Đế bắt đầu mở mang đất này, đặt Phủ Phú Yên với hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, lập dinh Trấn Biên, sau gọi là dinh Phú Yên”.

(11) Đại Việt sử ký toàn thư (2003), tập 3, Nxb Khoa học Xã hội, Hà Nội.
(12) Lương Ninh (2004), Lịch sử Vương quốc Chămpa, Nxb Đại học Quốc gia Hà Nội, tr.186.

Việt sử xứ Đàng Trong của Phan Khoang: “Bấy giờ xứ Quảng Nam vào đến phủ Hoài Nhân và biên giới cực Nam là huyện Tây Viễn (nay là Tuy Phước), bên kia Tuy Viễn là đất của Chiêm Thành. Năm Hoằng Định thứ 12 (1611) thì sang xâm lấn biên giới. Chúa (Thái Tổ Nguyễn Hoàng) sai chủ sự là Văn Phong (không rõ họ) đem quân đi đánh, lấy đất Phú Yên ngày nay, đặt làm một phủ, chia làm hai huyện là Đồng Xuân và Tuy Hòa và sai Văn Phong làm Lưu thủ phủ Phú Yên”1. Công trình Lịch sử vương quốc Chămpa nói về sự kiện này rõ hơn: “Trong khoảng 10 năm cuối thế kỷ XVI đầu thế kỷ XVII, Chiêm Thành lại lấn đất Hoa Anh, giết và đuổi những nông dân người Việt vào cư trú khai khẩn miền đất này. Năm 1611 Nguyễn Hoàng sai Nguyễn Phong làm tướng, đem quân vào đánh lại, Chiêm Thành bị thua, vua là Po Nit (1603 – 1613) phải bỏ đất Hoa Anh rút quân về phía nam Đèo Cả. Lần này họ Nguyễn lấy hẳn đất Hoa Anh, lập ra một phủ mới là phủ Phú Yên, gồm hai huyện Đồng Xuân và Tuy Hòa, lập Dinh Phú Yên, đóng quân để phòng giữ… Với việc lập phủ và dinh Phú Yên, chúa Nguyễn muốn xác lập hẳn puyền cai trị của mình trên một miền đất đã có sự góp sức khai khẩn của nông dân Việt trong mấy chục năm, muốn chấm dứt sự tranh chấp trên một vùng đệm để có thể yên tâm đối phó với cuộc chiến tranh chinh phạt của chúa Trịnh, một thử thách quyết liệt không thể tránh khỏi đối với chúa Nguyễn ở Đàng Trong”. Sau thời điểm này không lâu còn có một sự kiện nữa xảy ra trên vùng đất này: Năm Kỷ Tỵ (1629), Lưu thủ Phú Yên là Văn Phong giữ chức đã lâu, thân cận với người Chiêm, bèn dùng quân Chiêm để làm phản, Chúa sai phó tướng Nguyễn Phước Vinh đi đánh, dẹp yên, và đổi phủ Phú Yên thành Dinh Trấn Biên. Điều này cho biết vùng đất Phú Yên sau khi thuộc sự cai quản của chúa Nguyễn còn có nhiều người Chăm sinh sống, và chắc rằng xung đột giữa người Chăm và chính quyền chúa Nguyễn thỉnh thoảng vẫn xảy ra.

Nh ư vậy, năm 1611 việc lập Phủ Phú Yên của chúa Nguyễn Hoàng bắt đầu đánh dấu quá trình Nam tiến ở Đàng Trong của chính quyền Chúa Nguyễn. Thời điểm này cũng được coi là thời điểm “nước Hoa Anh” chính thức chấm dứt sự tồn tại của nó trong khoảng 140 năm kể từ năm 1471.

1 Phan Khoang (2000), Việt sử xứ Đàng Trong, Nxb Văn học , tr.125.

03/06/2010 at 11:24 AM Leave a comment

“Nguồn” trong kinh tế hàng hóa ở Đàng Trong

Andrew Hardy*

Giai đoạn cai trị của chúa Nguyễn đánh dấu một thời điểm đặc biệt trong quá trình chuyển đổi kinh tế ở miền Trung Việt Nam1. Trước giai đoạn này, mô hình kinh tế chủ đạo là mô hình Chămpa chủ yếu dựa trên buôn bán. Sau giai đoạn này, buôn bán chỉ giữ một vị trí ngoài lề trong nền kinh tế của Việt Nam chủ yếu dựa vào nông nghiệp. Hai mô hình này có thể được trình bày như hai trục tương ứng với hai định hướng địa lý khác nhau (xem hình 1).

* Viện Viễn Đông Bác cổ Pháp (E.F.E.O).
Bài do Đào Hùng và Nguyễn Thị Hồng Hạnh dịch từ Andrew Hardy, The Nguon in the Hybrid Commercial Economy of Dang Trong.

1 Mọi nghiên cứu của tôi về miền Trung Việt Nam được giúp ích nhiều từ những cuộc trao đổi với Nguyễn Tiến Đông. Kết quả được trình bày ở đây được giúp ích nhiều từ nghiên cứu của Cao Việt Anh, Lê Thị Liên, Nguyễn Thanh Tâm, Trần Đoàn Minh Hoàng và Trần Hoài tiến hành tại tỉnh Quảng Ngãi.

Định hướng kinh tế của Đại Việt (Bắc – Nam)
Bắc

Di dân định c ư nông nghiệp trồng lúa

Định hướng kinh tế của Chămpa (Đông – Tây)
Bắc
Buôn bán Ngoại miền ngược thương- miền xuôi
Định hướng kinh tế của các chúa Nguyễn (lai tạp)
Bắc
Buôn bán Ngoạimiền ngược thương- miền xuôi

Di dân định c ư nông nghiệp trồng lúa

Trong mô hình Chămpa, sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào vấn đề buôn bán hàng hoá có giá trị cao giữa miền núi và miền biển: mô hình này mang định hướng đông – tây. Trong khi đó, nền tảng của mô hình Việt Nam là kinh tế trồng lúa của dân di cư và có định hướng bắc – nam. Tuy nhiên, trong khoảng từ thế kỷ XVI đến XVIII, hai mô hình này đã kết hợp lại với nhau: dân di cư đã khai khẩn đất đai từ Quảng Nam vào Gia Định, đồng thời phát triển buôn bán từ miền núi xuống đồng bằng và ra nước ngoài thông qua Hội An và những cảng nhỏ hơn dọc theo bờ biển. Trong giai đoạn này, Đàng Trong có một nền kinh tế “lai tạp”, một sự kết hợp của hai mô hình mà tôi gọi là “mô hình hậu Chămpa” “mô hình Việt mới nổi lên”1.

Mô hình Việt mới nổi lên, th ường được nghiên cứu dưới tên gọi nam tiến, được các nhà sử học nghiên cứu về Việt Nam biết đến nhiều2. Mô hình Chămpa được biết đến nhiều hơn qua những nghiên cứu về Mã Lai và Đông Nam á3. Bài viết này xem xét một yếu tố trong mô hình Chămpa và chức năng của nó ở Đàng Trong.

Mô hình kinh tế hậu Chămpa

Chúng ta đã l ưu ý sự đối lập giữa hai mô hình trong định hướng của chúng (bắc nam và đông – tây). Ngoài ra còn có hai sự đối lập nữa giữa hai mô hình này: trên địa hình mà hai hệ thống này bao phủ và các tộc người sống trong đó. Mô hình Việt thuần nhất về địa lý và tộc người. Mô hình này dựa vào vùng đất bằng phẳng nơi có thể trồng được lúa nước và do đó có khuynh hướng sáp nhập các tộc người khác vào hệ thống kinh tế – xã hội mang tính thống nhất của mình. Trái lại, mô hình Chămpa hoạt động trên những vùng địa lý khác nhau, từ rừng núi xuyên qua đồng bằng ra cảng và biển cả. Do đó, nó kết nối các tộc người khác nhau mà không hợp nhất họ lại: mô hình kinh tế – xã hội của nó có tính đa dạng. Tính chất đặc trưng của mô hình Việt là tập trung và ổn định, nó có khuynh hướng ngăn cản sự di chuyển. Mô hình Chămpa khuyến khích sự đa dạng và di chuyển.

1 Bài viết này là sự phát triển của những ý tưởng trong hai tác phẩm đã xuất bản mới đây: Andrew Hardy, “Núi và biển trong lịch sử kinh tế Chămpa và Việt Nam” trong Tô Ngọc Thanh (chủ biên), Văn hoá biển miền Trung và văn hoá biển Tây Nam Bộ, Hà Nội: Nxb.Từ điển Bách khoa, 2008, trang 88-102; Andrew Hardy, Eaglewood and the Economic History of Champa and Central Vietnam (Trầm hương và lịch sử kinh tế Chămpa và miền Trung Việt Nam) trong Andrew Hardy, Mauro Cucarzi, và Patrizia Zolese (chủ biên), Champa and the Archaeology of My Son (Vietnam)(Vietnam) 126.

2 Nghiên cứu về quá trình nam tiến của Việt Nam được các nhà sử học tiến hành tại miền Nam trong giai đoạn 1955-1975. Xem số đặc biệt của tập san Sử Địa về nam tiến của dân tộc Việt Nam, 19-20, 1970. Về những nghiên cứu gần đây hơn, xem Đặng Thu, Nghiên cứu lịch sử di dân của người Việt thế kỷ X đến giữa thế kỷ XIX, Hà Nội: Viện Sử học, 1994.

3 Geoffrey Benjamin, ‘On Being Tribal in the Malay World’ (Bộ lạc trong thế giới Mã Lai) trong Geoffrey Benjamin và Cynthia Chou, Tribal Communities in the Malay World, Historical, Cultural and Social Perspectives (Cộng đồng bộ lạc trong thế giới Mã Lai, nhãn quan lịch sử, văn hoá và xã hội), Singapore và Leiden: ISEAS và IIAS, 2003, trang 10. Kathleen D. Morrison và Laura L. Junker, Forager-Traders in South and Southeast Asia, Long-Term Histories (Kẻ cướp phá-thương nhân ở Nam và Đông Nam á, lịch sử lâu dài), Cambridge: Cambridge University Press, 2002. Những nghiên cứu gần đây của tôi, Trần Kỳ Phương và Oscar Salemink áp dụng những hiểu biết về hệ thống kinh tế tại những nơi khác ở Đông Nam á vào miền Trung Việt Nam.

Hệ thống Chămpa đã duy trì như thế nào trên các bối cảnh khác nhau về địa hình và tộc người? Trong giai đoạn Đàng Trong, nó được xây dựng trên hai yếu tố. 1. Yếu tố thứ nhất là hệ thống các “điểm buôn bán”, một thuật ngữ bao gồm:

– Các cảng biển, quan trọng nhất là Hội An1. (Dưới thời Chămpa, những đảo gần bờ như Cù Lao Chàm, Cù Lao Ré v.v… cũng được sử dụng như là những điểm chuyển hàng lên tàu: yếu tố này đã biến mất dưới thời các chúa Nguyễn).

– Các chợ hoạt động nh ư là những điểm thu gom hàng hoá và thu thuế đối với hàng hoá di chuyển giữa miền núi và đồng bằng: các thị trấn này nằm tại vùng trung du và được gọi là “nguồn”, “đầu nguồn”, hay “nguyên”.

– Các chợ phụ nối các “nguồn”: Những chợ này hoặc nằm trên miền núi, điểm mua hàng hoá từ người Thượng, hoặc phổ biến hơn là tại những điểm giữa “nguồn” và cảng, nơi chúng hoạt động như những điểm thu gom hàng hoá di chuyển giữa miền núi và đồng bằng.
– Các chợ phiên nhỏ hơn tại các vùng chân núi, nơi cung cấp hàng trực tiếp cho các điểm thu gom ở đồng bằng.

– Tại miền núi, có rất nhiều điểm để người Thượng trao đổi hàng hoá, thường là thông qua sự thương lượng không chính thức ở trong làng hay trên đường mòn trongrừng hơn là tại chợ, phụ thuộc vào vai trò trung gian của già làng.
2. Các điểm buôn bán được nối bởi nhiều “kíp” khác nhau, theo mô hình “tiếpsức”, trong đó các nhóm di chuyển qua những địa hình mà họ quen thuộc. Hình 2 Các ‘kíp’ tham gia buôn bán theo hướng Đông – Tây giai đoạn chúa Nguyễn

Tới sông Mê Xuyên qua Kông: cao nguyên: người người

Th ượng, Thượng ở người Lào, cao nguyên
Khmer,
Miến Điện
Từ trung du tới cao
nguyên:
người Thượng ở trung du và cao nguyên
Từ bờ biển
tới trung du:
người Hoa,
Việt, Chăm, Ra nước ngoài: người người Hoa và
Thượng ở các nhóm ngoại trung du quốc khác

Tây Nguyên Bờ biển

1 Về ngoại thương tại Hội An, xem chương 2 và 3 của Li Tana, Nguyen Cochinchina, Southern Vietnam in the Seventeenth and Eighteenth Centuries (Nhà Nguyễn Đàng Trong, miền Nam Việt Nam thế kỷ 17 và 18), Icatha, New York: Cornell, 1998; Chingho A. Chen, “Historical Notes on Hoi-An (Faifo)” (Ghi chép sử học về Hội An (Faifo)) trong Eclipsed Entrepots of the Western Pacific (Các trung tâm xuất nhập khẩu bị lu mờ ở Tây Thái Bình Dương), John E. Wills Jr. (chủ biên), Aldershot: Ashgate, 2002, trang 285-361. Về sự chung sống của người Chăm và người Việt quanh Hội An trong giai đoạn Đàng Trong, xem Charles Wheeler, One Region, Two Histories: Cham Precedents in the History of the Hoi An (Một vùng đất, hai lịch sử: tiền lệ Chăm trong lịch sử Hội An) trong Viet Nam, Borderless Histories (Việt Nam, lịch sử không biên giới), Nhung Tuyết Trần và Anthony Reid (chủ biên), Madison: University of Wisconsin Press, 2006, trang 157-193.

Là mô hình lý thuyết về hệ thống các đoạn buôn bán qua Tây Nguyên, nơi mỗi nhân tố xuất hiện tại một địa hình cụ thể: Người Hoa tại vùng biển và đồng bằng, người Việt tại đồng bằng và trung du, từng nhóm người Thượng tại những khu vực cụ thể ở miền núi. Mỗi nhóm di chuyển giữa các điểm buôn bán trên một đoạn của con đường thương mại. Không có nhóm nào hoạt động trên suốt toàn bộ hệ thống, do đó mà bảo đảm được tính đa dạng về tộc người của hệ thống này.

Dấu vết hậu Đàng Trong của hệ thống này có thể tái tạo từ sự so sánh các t ư liệu khác nhau: Phủ Biên Tạp Lục của Lê Quí Đôn, sử liệu chính thống của triều Nguyễn, ghi chép của các nhà du khảo Pháp, tư liệu điền dã. Từ những nguồn tư liệu đó, chúng ta có thể đánh giá được tầm quan trọng của “nguồn”, thị trấn ở vùng trung du, đối với hệ thống này.

“Nguồn”

Ghi chép về hành trình đ ược nhà truyền giáo Pierre Dourisboure xuất bản năm 1863 lần lại bước đi của những người sáng lập hội truyền giáo Kontum trong cố gắng ban đầu vươn tới cao nguyên thời cấm đạo những năm 1840. Vào năm 1842, hai nhà truyền giáo người Pháp từ Phú Yên tới cao nguyên đã bị thương nhân người Việt bắt tại địa bàn của người Thượng và giao nộp cho quan. Những nỗ lực khác tại Quảng Ngãi và Quảng Nam cũng gặp phải thất bại tương tự.

Sau đó vào năm 1848, giám mục Pháp đã cử một thanh niên Công giáo ng ười Việt tới nguồn An Sơn để tìm đường tới cao nguyên thông qua vùng trung du của tỉnh Bình Định. Dourisboure mô tả An Sơn là “một trung tâm thương mại lớn giữa người Việt với người mọi” (tr. 9), ở đó “người Việt thực hiện (…) buôn bán đáng kể đối với người mọi. Họ không ngừng đi lại qua các bộ lạc, nhưng không một ai nghĩ đến việc định cư ở đấy. Về phía mình, người mọi xuống núi bán hàng và mua hàng tận An Sơn, nhưng không bao giờ dám vượt qua ranh giới đó” (tr. 9). Ông còn đánh giá ngắn gọn về đặc điểm chính trị quan trọng của vùng này trong quá khứ: “Vào cuối thế kỷ trước, chính ngôi làng này là cái nôi của cuộc khởi nghĩa chống vua Gia Long (…). Từ cái thời đáng ghi nhớ đó, An Sơn (xưa là Tây Sơn) luôn luôn gây nên sự lo ngại trong nền chính trị đầy nghi kỵ của các vua Việt; vì vậy luật lệ nghiêm cấm bằng những hình phạt nặng nề, những người Việt không được định cư trên đất mọi, và người mọi không được đi quá An Sơn để vào đất Việt”.

Nh ư đã trình bày với vị giám mục, kế hoạch của người thanh niên Công giáo là như sau: “Tôi giả làm người đi buôn (…) làm ra vẻ đang mua hàng, tôi đi sâu vào trong, qua khỏi ranh giới mà những nhà buôn khác không vượt qua” (tr. 11). Sau khi làm đầu bếp cho một thương nhân người Việt, anh ta đã tự mình buôn bán, học ngôn ngữ và tìm hiểu tình hình của vùng đất này cho đến “một hôm, người mọi quyết định cướp lấy hàng của anh mà họ cho là rất quí giá, và bắt anh ta cùng với người của họ bán cho người Lào làm nô tì” (tr. 14-15). Anh trốn thoát được và sau đó báo với giám mục về con đường lên miền núi mà những thương nhân người Việt ít biết đến.

Một năm sau, hai nhà truyền giáo là Combes và Fontaine đã đi theo con đ ường này. Từ Trạm Go, nằm ở mép đồng bằng Bình Định, họ đã đi tới làng có tên Kon Phar: “Đến đấy, họ đã vượt qua ranh giới mà các nhà buôn Việt không bao giờ đi quá, và họ có thể đi về phía tây-nam mà không lo sợ gì” (tr. 27). Trước khi đi, vị giám mục đã khuyến cáo họ nên đi đường vòng qua An Sơn, đặc biệt là phải tránh gặp một già làng Bana, tên là Kiêm: “Vì ông ta nói thạo tiếng Việt và có buôn bán lớn với các nhà buôn Nam Kỳ, những nhà buôn Nam Kỳ thường nhờ ông làm trọng tài để giải quyết các tranh chấp giữa họ với người mọi. Vị trí cao của ông được mọi người thừa nhận, và quan lại người Việt đã cấp cho ông một chứng chỉ để lấy lòng và lợi dụng uy tín của ông. (…) [Các quan] đã biến ông trở thành một nhân viên trung thành với chính quyền Việt” (tr. 29).

Thật không may, khi đến Kon Phar, “người đầu tiên mà họ gặp là ông Kiêm nổi tiếng đó…”.

Vài năm sau khi hội truyền giáo Kontum đ ược thiết lập thành công, một viên quan người Việt tại huyện Tuy Viễn, nơi thị trấn An Sơn trực thuộc, đã báo cáo với triều đình về các mặt đời sống chính trị và kinh tế của huyện. Nội dung của báo cáo này được sắp đặt dưới các đề mục hành chính – “Phong tục”, “Sản vật”“Sông núi” v.v… – và chứa đựng chi tiết về người vùng cao nơi các nhà truyền giáo sinh sống cũng như những thông tin về thị trấn An Sơn (ở đây được gọi là nguồn Phương Kiệu), nơi những nhà truyền giáo lúc bấy giờ đã có thể đi qua mà không sợ bị bắt.

Phong tục

Ng ười Thượng ở các sách động làm nhà sàn để ở, làm nghề chăn nuôi súc vật (trên sàn người ở, dưới sàn súc vật ở), kết giây làm tin, ăn mặc tiết kiệm, không ăn trộm của nhau, thích có các vật dụng bằng đồng như mâm, nồi, chiêng, côn và đồ đựng như chỉnh sành.

Sản vật

Gỗ kiền kiền, song, nhựa trám, dầu hoả, trầm h ương, tốc hương, ngà voi, mật ong, sáp ong, củ nâu, chim công, trâu, ngựa sản ở hai tổng Phú Phong, Nhơn Nghĩa, các nguồn và ở vùng người Thượng (đều không nhiều).

Sông núi

Nguồn Ph ương Kiệu: thuộc thôn An Khê ở địa giới phía tây tổng Phú Phong của huyện hạt. Đất quá nhiều lam chướng. Có dựng một đồn canh phòng. Trước đây là nơi buôn bán, đặt viên tấn thủ để trông coi. An Khê vốn là trại cũ của Tây Sơn, đất khá bằng phẳng rộng rãi. Nguồn này có sông Ba, phía trên sông vài dặm tiếp liền với vùng người Thượng. Đi vài ngày đường lại có sông Đôn. Các sông đều chảy xuống phía nam, đổ vào sông Đà Diễn đạo Phú Yên. Lại đi về phía tây 12 – 13 ngày đến sông Ba La, chảy về phía tây rồi đổ vào Khung Giang1. Thỉnh thoảng có đạo trưởng người Tây dương đến, còn đạo trưởng người nước ta thì thường trú ở đây để dạy đạo cho người Man.

Việc so sánh hai tư liệu này cấp cho chúng ta những thông tin sau:

– Trong quá khứ, An Sơn từng là một địa điểm buôn bán quan trọng. Sau đó hậu quả của cuộc khởi nghĩa Tây Sơn đã dẫn đến những cấm đoán sự đi lại tới địa phương này cũng như từ đó đi nơi khác. Tuy nhiên các thương nhân người Việt và người Thượng vẫn tiếp tục gặp nhau ở đó.

– Th ương nhân người Việt dựa vào mối quan hệ cá nhân với các già làng để củng cố quan hệ buôn bán của họ.
– Các loại hàng hoá được buôn bán trên cả hai hướng ở đó (mặc dầu sản phẩm mà người vùng cao cần nhất từ đồng bằng là muối lại không thấy có trong danh sách của viên quan).

– Có một giới hạn về khu vực đi lại của ng ười Việt lên miền núi cũng như của người Thượng xuống đồng bằng. Điều này được thiết lập bằng luật của triều Nguyễn trong trường hợp An Sơn và bằng thực hành buôn bán trong thực tế tại những nơi khác.

– Triều đình Việt Nam đã thiết lập những đồn canh phòng và đặt viên tấn thủ thu thuế tại đây.

Những t ư liệu trên cho chúng ta cái nhìn quý giá vào dấu vết của “nguồn” tại thời gian ngay sau khi sự phát triển kinh tế ở đây lên đến đỉnh điểm. Sự suy tàn của “nguồn” trong thế kỷ XIX được ghi lại đầy đủ trong trường hợp An Sơn. Có những nguyên nhân cụ thể đối với sự suy tàn này liên quan tới hậu quả của khởi nghĩa Tây Sơn. Nhưng sự suy tàn của An Sơn còn được chia sẻ bởi các “nguồn” khác nằm tại những điểm thuộc vùng trung du suốt dọc Đàng Trong.

Nh ư những tư liệu trên chỉ ra, “nguồn” có ba chức năng chính. Đây trước hết là một cái chợ, nối bằng đường sông xuống đồng bằng và bằng đường mòn lên miền núi. Thứ hai, là địa điểm đánh thuế hàng hoá, nơi đây có sự hiện diện của quân đội. Cuối cùng, đây là một đơn vị hành chính, gần tương đương với một tổng ở đồng bằng: vào thế kỷ XIX, 80 sách miền núi được xếp dưới sự quản lý của “nguồn” Phương Kiệu2.

Nh ư vậy Đại Nam Nhất Thống Chí liệt kê bảy “nguồn” ở Bình Định, mỗi “nguồn” với thủ sở, trường giao dịch và đồn bảo của nó3. Tuy nhiên, chức năng chủ yếu và rõ ràng là lâu đời nhất của “nguồn” là kinh tế, có niên đại từ thời Chămpa. Dưới thời các chúa Nguyễn, chức năng kinh tế tiếp tục làm nền tảng cho những chức năng khác: hoạt động chủ yếu của quan lại triều đình là đánh thuế hàng hoá trong khi các đồn là để bảo vệ cả hoạt động buôn bán lẫn các nguồn thuế mà nó sinh ra. Không còn chức năng kinh tế, các hoạt động khác sẽ trở thành dư thừa.

1 Khung Giang, tức sông Khoãng (Mekong).
2 Đồng Khánh Dư Địa Chí, tỉnh Bình Định, huyện Tuy Viễn.
3 Đại Nam Nhất Thống Chí, tập 3, Huế: Nxb. Thuận Hoá, 1997, trang 37-38.

Chức năng kinh tế của “nguồn” được thấy rõ trong nghiên cứu điền dã tại An Khê do nhà sử học Nguyễn Quang Ngọc thực hiện năm 1977:

ở thôn An Luỹ hiện nay vẫn còn An Khê trường được xây dựng từ lâu và được trùng tu lại vào năm 1968 – 1969 trên khu vực trường sở giao dịch ngày xưa. Nhân dân địa phương đều giải thích thống nhất là trường có nghĩa là trường sở buôn bán, trường giao dịch. ở phía nam An Khê trường hiện nay còn khu ruộng trũng mang tên thô Rộc trường và cây ké Rộc trường cao 30m chu vi 4,5m. Đáng chú ý là ở cách An Khê trường 300m về phía tây, nay còn một gò đất cao mang tên gò chợ, theo nhân dân kể lại là chợ An Khê trước đấy1.

Lê Quí Đôn nhấn mạnh tầm quan trọng của chức năng kinh tế của những thị trấn này trong nghiên cứu của ông về thuế mà họ gửi tới triều đình ở Phú Xuân. Ông viết về thuế thu được trong năm 1774 từ các “nguồn” ở tỉnh Bình Định như sau:

Nguyên Hà – nhiễu thuộc phủ Qui – nhân hàng năm phải nạp số tiền thuế là 166
quan 5 tiền, cùng thuế thổ – nghi 27 quan 5 tiền, mật-ong 3 tĩn, chiếu mây hạng nhỏ 4
cuốn, bông gòn 99 cân, kỳ – hoa miên – hoa 3 bao cân nặng 105 quan tiền, cảm – lãm 25
lâu (sọt), long – đằng 60 cây, dầu thơm 2 tĩn, đèn lớn 3.325 chiếc, đèn nhỏ 60 chiếc, sáp
– ong 70 bát.

Nguyên Trà – đinh và nguyên Trà – vân hàng năm phải nạp số thuế là 2.250 quan tiền. Trước đây, tiền thuế nguyên Trà – đinh và nguyên Trà – vân được dành để cấp ngụ
– lộc cho quan Ngoại – hữu Trương – Phúc – Loan, nên hai nguyên nầy phải nạp 5 thoi giáp – ngân.

Nguyên Trà – vân còn phải nạp riêng 590 cây đèn dầu cảm – lãm để cất chứa vào kho dầu.

Nguyên Cầu – bông [An Sơn] hàng năm phải nạp số thuế là 150[0] quan2. Trước đây, số thuế nguyên Cầu – bông được dành để cấp lương cho quan Nội – hữu – chưởng tên là Khoan, nên nguyên Cầu – bông nầy phải nạp 11 thoi 2 lượng giáp – nhân.

Những “nguồn” khác ở trong tỉnh bao gồm Đá – bàn (1.000 quan tiền) và Ô – liêm (749 quan 5 tiền). Xa hơn về phía bắc, thuế thu được cũng ấn tượng như vậy: ở Quảng Ngãi là từ 610 quan tiền đối với nguyên Bà – địa tới 3.000 quan đối với nguyên Cù – ba Cây – mít; ở Quảng Nam là từ 198 quan đối với nguyên Đông – lỗ tới 2.060 quan đối với nguyên Chiên -đàn. Ngay cả khi chúng ta cho phép những khó khăn kinh tế và sự bóp méo số thuế thu được trong thời kỳ Trương Thúc Loan, rõ ràng là thuế trong buôn bán giữa đồng bằng và miền núi chiếm một tỷ lệ quan trọng trong ngân khố của triều đình Đàng Trong1.

1 Phan Huy Lê, Phan Đại Doãn, Vũ Minh Giang, Nguyễn Quang Ngọc, Trên đất Nghĩa Bình, Qui Nhơn: Sở văn hoá thông tin Nghĩa Bình, 1988, tr.16.
2 1500 quan.

“Nguồn” trong mô hình kinh tế hậu Chămpa

“Nguồn” đã khớp vào hệ thống kinh tế lai tạp được mô tả ở trên như thế nào? Trước tiên, đây là yếu tố quan trọng nhất trong mô hình buôn bán hậu Chămpa: Li Tana từng gợi ý rằng bản thân từ tiếng Việt ‘nguồn’ ám chỉ nhiều đến vai trò kinh tế của nó như là nơi nguồn hàng hoá đổ xuống từ cao nguyên giống như vị trí địa lý của nó tại đầu nguồn của những con sông. Thêm vào đó, vai trò quan trọng của “nguồn” còn tăng lên bởi chức năng là nơi tiếp xúc giữa các tộc người: Đây là nơi người Thượng tập hợp và buôn bán với người Việt, người Hoa và người Chăm. Ta có thể đọc tường trình chi tiết về nguồn An Sơn tại chương một của cuốn Trên đất Nghĩa Bình. Đối với một tường trình ngắn gọn hơn, ta phải nhìn về phía bắc tới nguồn Trà My thuộc tỉnh Quảng Nam, trung tâm chủ chốt trong việc thu gom quế2. Sau khi trình bày kết quả nghiên cứu chi tiết về quá trình thu gom và sơ chế lâm sản quí giá này, một tác giả người Pháp đầu thế kỷ XX đã quan sát thấy:

“Nhiều công đoạn phức tạp đòi hỏi phải có số ng ười làm đáng kể. Do vậy, tất cả dân cư sống trong các chợ buôn quế, vào mùa bán quế, đều hoàn toàn lo công việc đó. Ngoài những thời kỳ khi có một hoạt động thực sự ở các trung tâm trao đổi, thì dân chúng lại trở về với ruộng đồng và vườn tược của mình. Trung tâm quan trọng nhất ở đó là chợ Trà My. Không có gì đẹp hơn ngôi làng náu mình trong tận cùng thung lũng sông Tranh, ẩn sau những khu vườn tuyệt vời trồng cau, trồng tiêu, trồng chè, v.v… Khắp xung quanh là những dãy núi lớn cây cối rậm rạp. Đáng tiếc là vùng đất thì giàu có, nhưng nước lại rất độc. Khi đến thăm Trà My, ta thấy ngay dáng vẻ khốn khó của cư dân, mặc dầu đất đai mà họ trồng trọt thì phì nhiêu. Sốt rét tàn hại nặng nề, dân chúng hầu như hoàn toàn đắm mình vào thuốc phiện, tin chắc rằng dùng thứ thuốc đó sẽ giúp họ, trong một mức độ nào đó, chống lại ảnh hưởng độc hại của khí hậu miền núi. Nhà làm có hai mái, mái thứ nhất bằng tranh, mái thứ hai bằng đất và vôi nhằm bảo vệ bên trong khỏi cháy do người mọi đốt. Lâu lâu lại có một vụ tập kích của người mọi; một vài người dân bị bắt đi làm nô tì; tuy nhiên, dân cư vẫn tăng lên một cách chậm chạp, cư dân đồng bằng dần dần bị lôi cuốn vì miếng mồi lời lãi do buôn quế”3.

Nghiên cứu điền dã tiến hành trong hai năm 2007-2008 cho thấy những dấu hiệu rõ ràng về con đường nơi quế từ những cánh rừng ở miền núi – chủ yếu do người Co trồng – xuống cảng Hội An. Người Co mang quế xuống chợ phiên ở Trà My hoặc bán quế cho thương nhân người Việt làm cho những người Hoa chuyên thu gom quế. Từ những điểm thu gom ở Trà My, người Việt khuân vác quế qua đường mòn trong rừng xuống phố Tàu ở Tam Kỳ. Tại đây, quế được xếp lên thuyền mảnh và chở bằng đường sông tới Hội An1.

1 Thuế bằng tiền thu được từ các nguồn tại tỉnh Bình Định (6.255 quan tiền) chiếm khoảng 8% tổng số thuế thu được từ miền núi, đầm hồ, đèo và chợ ở Đàng Trong năm 1774 (76.467 quan 2 tiền 54 chu). Phủ Biên Tạp Lục, tập 2, tr. 9 .

2 Lê Quí Đôn gọi là Chiên Đàn, nộp 2060 quan tiền năm 1774. Phủ Biên Tạp Lục, tập 2, tr. 29. 3 Brière, Culture et commerce de la cannelle en Annam, Bulletin économique de l’Indochine, No. 33, 9/1904, trang 945-6.
Như Lê Quí Đôn đã ghi chép về việc buôn bán này:

Đại phàm những hoá – vật đ ược sản xuất từ các phủ Thăng – hoa, Điện – bàn, Qui
-nhân, Quảng – nghĩa, Bình – khang cùng dinh – sở Nha – trang, chỗ thì người ta chuyên
– chở hàng – hoá bằng thuyền theo đường thuỷ, hay chở bằng người theo đường bộ, đều đổ xô dồn về phố Hội – An cả2.

Kết luận: “Nguồn” ở Đàng Trong

Nh ư chúng ta đã thấy, ở Chămpa cũng như nhiều nơi khác tại Đông Nam á, người vùng cao phục vụ các vương triều đồng bằng như những “đầu sai”, cung cấp lâm sản cho các cảng biển, nơi chúng được bán lại như những hàng hoá có giá trị cao vào mạng lưới buôn bán toàn cầu của Đông á3. Sau sự suy tàn của Chămpa, một mô hình mới nổi lên dưới dạng di dân từ các tỉnh phía bắc tới định cư, khai khẩn đất đai, trồng lúa và từng người trong số họ đã đóng góp vào việc thiết lập một hệ thống kinh tế mới và cụ thể hơn là hệ thống Việt4. Vào thế kỷ XVII – XVIII, cả hai mô hình này đồng tồn tại ở Đàng Trong.

Không nghi ngờ gì cả, hệ thống kinh tế lai tạp này là nhân tố chủ chốt trong sự thành công và trường tồn của chế độ các chúa Nguyễn: sự phát triển kinh tế phụ thuộc vào việc buôn bán hàng hoá có giá trị cao tạo điều kiện thuận lợi cho chế độ này bảo vệ được mình trước chúa Trịnh ở phía bắc và chu cấp kinh phí cho sự mở rộng năng động về phía nam. Sau đó, dưới triều Nguyễn, mô hình Việt đã chiếm ưu thế. Mô hình hậu Chămpa chỉ tồn tại dưới dạng vết tích, dòng trao đổi miền núi – đồng bằng chỉ có giá trị kinh tế mang tính địa phương. Trong giai đoạn này, vùng biển miền Trung Việt Nam mang những tính chất kinh tế mà nó vẫn giữ hiện nay.

Bài viết ngắn này là khám phá b ước đầu vào vị trí của nguồn trong hệ thống Chămpa. Nghiên cứu của chúng tôi cho phép suy đoán rằng nguồn không chỉ là một vị trí họp chợ quan trọng trong mô hình kinh tế Chămpa: đây còn là địa điểm quan trọng nơi “mô hình hậu Chămpa”“mô hình Việt Nam đang nổi lên” gặp nhau trong giai

1 Nghiên cứu điền dã tiến hành tại huyện Trà My, tỉnh Quảng Nam, tháng 6/2007 và huyện Nam Trà My, tỉnh Quảng Nam, tháng 3/2008.
2 Phủ Biên Tạp Lục, tập 2, trang 72.
3 Geoffrey Benjamin, “On Being Tribal in the Malay World” trong Geoffrey Benjamin và Cynthia Chou, Tribal Communities in the Malay World, Historical, Cultural and Social Perspectives, Singapore và Leiden: ISEAS và IIAS, 2003, trang 10.
4 Về bức tranh chi tiết của Đàng Trong giai đoạn người Chăm và Việt chung sống quanh Hội An, xem Charles Wheeler, “One Region, Two Histories: Cham Precedents in the History of the Hoi An” trong Viet Nam, Borderless Histories, Nhung Tuyết Trần và Anthony Reid (chủ biên), Madison: University of Wisconsin Press, 2006, trang 157-193.

đoạn Đàng Trong. Hàng hoá xuất khẩu có giá trị cao của đất nước bắt nguồn từ đây; đây là điểm thu thuế chủ yếu; đây cũng là nơi gặp gỡ của các tộc người trong đất nước.

Chúng ta biết rất ít về các mặt kinh tế quan trọng đối với sự suy sụp của chế độ các chúa Nguyễn ở Đàng Trong. Nếu nghĩ về nguồn gốc của khởi nghĩa Tây Sơn, chúng ta có thể đặt câu hỏi: những mâu thuẫn được tạo bởi sự đồng tồn tại của hai mô hình kinh tế rất khác nhau đã đóng góp ở mức độ nào vào sự suy sụp của chế độ các chúa Nguyễn thế kỷ XVIII?

Tại nguồn Cầu Bông thế kỷ XVIII, Nguyễn Nhạc đã làm hai nghề: ông buôn bán với người Thượng và thu thuế cho chính quyền ở nguồn. Chúng ta có thể nói rằng cả hai mô hình được thể hiện trong hoạt động kinh tế của ông. Liệu cuộc khởi nghĩa Tây Sơn có phải bắt nguồn từ sự khủng hoảng trong hệ thống kinh tế lai tạp, khi mô hình hậu Chămpa nhường chỗ cho mô hình Việt Nam đang nổi lên thông qua sự thay đổi về thuế, sự thất bại của hệ thống hành chính và sự chuyển đổi của hướng buôn bán đông – tây? Cần phải nghiên cứu thêm trước khi câu hỏi này có thể được trả lời đầy đủ.

Trong những hành động sau đó, Nguyễn Nhạc rõ ràng khiến ng ười ta chú ý bởi mối quan hệ chính trị gần gũi với người Chăm và người Thượng cũng như truyền thống của họ: điều này cũng gợi ý rằng ông gần gũi với mô hình kinh tế hậu Chămpa hơn. Rõ ràng chúng ta phải quan tâm tới sự thật là khởi nghĩa Tây Sơn bắt đầu từ một trong những nguồn quan trọng ở Đàng Trong. Nếu tôi cho rằng đây không phải là một điều ngẫu nhiên, đó là bởi nguồn đóng một vai trò tối quan trọng trong nền kinh tế đã giữ vững chế độ các chúa Nguyễn trong thời gian gần hai trăm năm.

03/06/2010 at 11:22 AM Leave a comment

Older Posts


NIKKI

December 2016
M T W T F S S
« Jun    
 1234
567891011
12131415161718
19202122232425
262728293031  

Đường link đến Facebook

RSS Huy Minh

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Huy Đức

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Mr. Do

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Trương Duy Nhất

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Nguyễn Xuân Diện

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

RSS Hương Trà

  • An error has occurred; the feed is probably down. Try again later.

Recent Comments

bhanh8 on CHÚA NGUYỄN VÀ VƯƠNG TRIỀU NGU…
minhphuong on Cây tre
minhphuong on Cây tre
tay on ĐIẾU HÀ TÂY TỈNH
thuy on Cây tre

Liên Hiệp Quốc

free counters

Bạn là ai? Bạn từ đâu tới?

Thống kê

wordpress blog stats

Khách đến chơi nhà